Giới thiệu Bắc Ninh
Thành tựu 10 năm
Tin tức - Sự kiện
Thông tin Quy hoạch
Kế hoạch phát triển
Các Khu công nghiệp
Xã hội và Phát triển
Kinh tế - Kinh doanh
Giáo dục - Đào tạo
Thông tin Tư pháp
KHCN và Môi trường
Văn hoá và Du lịch
Dịch vụ trực tuyến
Thông tin Thương mại
Văn bản ban hành
Giới thiệu Bắc Ninh

ĐẶC ĐIỂM CHÍNH TRỊ - KINH TẾ - XÃ HỘI

 

 

Kinh tế: Cùng với sự phát triển của cả nước, trong những năm qua kinh tế Bắc Ninh có những bước phát triển đáng kể. Sản xuất hàng hoá đang phát triển, có cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực tăng trưởng cao. Công nghiệp, dịch vụ, nhất là công nghiệp nông thôn được phát triển thích ứng dần với cơ chế thị trường. Sản xuất kinh doanh phát triển đều cả về quy mô và chất lượng. Đặc biệt hệ thống 61 làng nghề truyền thống như: đúc đồng (Đại Bái ? Gia Bình), sắt thép (Gia Hội - Từ Sơn), gỗ mỹ nghệ (Đồng Kỵ - Kim Sơn),...đã và đang phát triển thành thế mạnh và tiềm năng lớn góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của Bắc Ninh. Đồng thời với hàng loạt địa danh gắn liền với di tích lịch sử - văn hoá và con người Kinh Bắc, Bắc Ninh đang ngày càng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước tới tham quan du lịch.

Nguồn nhân lực: nguồn nhân lực của Bắc Ninh khá dồi dào. Dân số năm 2001 960.500 người, trong đó số người có khả năng lao động là 484.900 người (chiếm 50.5%). Trung bình mỗi năm số người bước vào độ tuổi lao động tăng từ 10 nghìn đến 15 nghìn người. Số lao động đã qua đào tạo chiếm 18%. Trình độ dân trí cao, hàng năm có từ 30 ? 40% học sinh phổ thông thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp góp phần đáng kể cho nền kinh tế địa phương.

Văn hoá ? xã hội: Bắc Ninh là miền quê của chùa, tháp, lăng miếu, đền đài, quê hương của lễ hội và sinh hoạt văn hoá dân gian nổi tiếng. Nét nổi bật trong truyền thống văn hiến của người Kinh Bắc là truyền thống hiếu học và khoa bảng. Trong thời phong kiến, suốt hơn 800 năm khoa cử chữ Hán, Bắc Ninh là nơi sản sinh ra hơn 600 vị tiến sỹ. Trong đó có rất nhiều người đã thành các nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá như Lê Văn Thịnh, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Đăng Đạo, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Cao, ...Họ không chỉ là những nhà chính trị, quân sự, ngoại giao và còn là những nhà văn, nhà thơ tiêu biểu cho nền văn hiến Kinh Bắc.

 

 

 

 

NHỮNG THÀNH TỰU CƠ BẢN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI

 ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC TRONG THỜI GIAN QUA.

 

          Sau hơn 5 năm tái lập tỉnh, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn thách thức, nhưng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, HĐND tỉnh, sự chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh, sự nỗ lực của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân, nền kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Ninh tiếp tục chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực, cụ thể như sau:

          Thắng lợi có ý nghĩa tổng quan nhất là kinh tế phát triển với tốc độ cao và khá bền vững. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 12,1%/ năm ( 1996-2001), năm 2002 là 14%. Cơ cấu kinh tế đã và đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá: tỷ trong nông nghiệp giảm từ 46% ( năm 1996) xuống còn 31,7% ( năm 2002), tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ tăng tương ứng từ 54% lên 68,3%. Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, thu nhập bình quân năm năm 2001 đạt 449 USD, tăng so với năm 1996 là 193 USD.Nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao được thể hiện rõ nét trên hầu hết các ngành kinh tế (năm 2002, tốc độ tăng khu vực nông nghiệp, Công nghi ệp, dịch vụ là 5,7%- 22,8%- 12,5% so  với 5,1%- 8,5%- 13,5% của năm 1996).

 

          Sản xuất nông nghiệp đạt được tiến bộ trên cả 2 lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 7,9%/ năm ( 1996-2001), năm 2002 5,7%, đạt 1.795,7 tỷ đồng ( giá so sánh 1994). Nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa nhiều giống lúa mới cho năng suất cao vào sản xuất, thay đổi cơ cấu mùa vụ, nên năng xuất lúa liên tục tăng từ 36,7tạ/ha( năm 1996) lên 53,5 tạ /ha (năm 2002), đưa sản lượng lương thực có hạt tăng từ 30,96 vạn tấn lên 45,28 vạn tấn, bình quân lương thực đầu người tăng từ 350 kg  lên 466 kg. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã có những chuyển biến tích cực, tỷ trọng giá trị trồng trọt- chăn nuôi- dịch vụ năm 1996 là 70,5%- 26,3%-3,2% sơ với năm 2002 là 63%-  33,6%- 3,4%. Một số vùng chuyên canh, sản suất hàng hoá quy mô nhỏ đã được hình thành như giống lúa nếp ở Từ Sơn, Tiên Du, Quế Võ;lúa chất lượng cao ở Lương Tài; dưa chuột xuất khẩu ở Quế Võ, Tiên Du, Gia Bình. Chăn nuôi và thuỷ sản tiếp tục phát triển, tổng đàn lợn 1996 291,6 - 443,6, đàn bò 36,8- 44, đàn gia cầm (1999) 2,6-3,8. Sản lượng thuỷ sản năm  2001 đạt 8.513 tấn, tăng gấp 2,3 lần năm1996.

 

          Sản xuất công nghiệp  phát triển với tốc độ cao, bình quân đạt 33,7%/ năm (1996-2001). Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2002 đạt 3.345,3 tỷ đồng tăng 1996-,480,2 tỷ đồng. Sau hơn hai năm khởi công, Khu công nghiệp Tiên Sơn đã có 34 dự án đăng ký đầu tư với tổng số vốn hơn 1.500 tỷ đồng, diện tích thuê đất chiếm 130ha, trong đó đã thẩm định và cấp giấy phép đầu tư cho 18 dự án, với tổng vốn đầu tư 963 tỷ đồng , chiếm 80ha đất, đến nay đã 6 dự án đã đi vào hoạt động, tạo việc làm cho hơn 1.000 lao động; Khu công nghiệp Quế Võ đến hết năm 2002 đã có 23 nhà đầu tư đăng ký, với tổng số vốn là 1.000 tỷ đồng, diện tích chiếm đất 83ha, trong đó có 17 dự án được cấp giấy phép đầu tư, với tổng vốn đầu tư 718,7 tỷ đồng, chiếm 45ha đất. Cùng với việc phát triển hai khu công nghiệp trên, UBND tỉnh đang chỉ đạo triển khai lập quy hoạch phát triển 3 Khu công nghiệp gồm: KCN Nam Sơn- Hạp lĩnh(300ha); KCN Yên Phong (200ha); KCN Đại Đồng - Hoàn Sơn(300ha). Ngoài ra, tỉnh còn chú trọng đến công tác quy hoạch xây dựng các Cụm công nghiệp và Khu công nghiệp làng nghề; khuyến khích khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống, đến nay tỉnh đã tiến hành quy hoạch 17 cụm công nghiệp đa nghề, làng nghề ( 11 cụm đa nghề, 6 cụm làng nghề) ở 8 huyện, thị xã với diện tích 235,3ha, hiện nay đã có 7 cụm khởi công, 6 cụm thực hiện phương thức gọi đầu tư cấp dời, 4 cụm đang tiến hành xây dựng quy hoạch.Vì thế, các làng n ghề được củng cố và phát triển đã tạo ra 75% giá trị sản xuất khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh; góp phần giải quyết việc làm( thu hút gần 5 vạn lao động) và tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn, góp phần thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói, giảm nghèo, tạo ra tích luỹ nội bộ cho phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong những năm tiếp theo.

 

          Kinh tế đối ngoại  và thương mại - dịch vụ có bước phát triển. Các cụm thương mại - dịch vụ ở thị xã, thị trấn và thị tứ từng bước được hình thành. Mạng lưới chợ nông thôn tiếp tục phát triển, hoạt động dịch vụ ngày càng đa dạng, hàng hoá phong phú, giá cả ổn định đáp ứng được nhu cầu phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hoá hàng hoá thị trường xã hội tăng từ 875,3 tỷ đồng năm 1996 lên 2.089,3 tỷ đồng năm 2002; hoạt động xuất nhập khẩu hàng năm đều tăng, năm 1996 đạt 35,42 triệu USD, nắm 2002 đạt 96,9 USD, tăng  so với năm 1996. Từ năm 1997 đến nay , Bắc Ninh đã tiếp nhận và triển khai nhiều dự án sử dụng nguồn vốn ODA như : trạm bơm Tân Chi, Bệnh viện Đa khoa tỉnh ...và nhiều dự án đầu tư và hợp tác liên doanh với nước ngoài đã đi vào hoạt động.

 

          Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng bình quân 8,4%/ năm ( 1996-2000), năm 2001 đạt 254,7 tỷ đồng, năm 2002 đạt 309 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 1999 là 899 tỷ đồng, năm  Hoạt động tín dụng có bước chuyển biến đáp ứng nhu cầu vốn phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, tạo việc làm góp phần xoá đói, giảm nghèo, tổng nguồn vốn huy động năm 2002 tăng so với năm 1997 là 1.400/572,4, tổng dư nợ tín dụng tăng 1.800/611,5.

 

          Cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội, các lĩnh vực văn hoá- xã hội có bước phát triển khá:

Quy mô đào tạo các cấp, các ngành học được mở rộng; chất lượng giáo dục trọng điểm và đại trà được nâng lên. Tổng số học sinh phổ thông năm 1999 là 234.101, năm 2001 là 233.654, số học sinh trên phổ thông trên 1 vạn dân năm 1999 là2.479, năm 2001 là 2.432; tổng số giáo viên năm 1999 là 7.988, năm 2001 là9.028.

          

          Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân được quan tâm chỉ đạo, các chương trình y tế quốc gia được thực hiện tốt; số giường bệnh trên 1 vạn dân năm 1999 là 16,8, năm 2001 là 17,6, số y, bác sỹ trên 1 vạn dân năm 1999 là 16,3, năm 2001 là 17,8.

          Các hoạt động văn hoá quần chúng được tổ chức thường xuyên góp phần giáo dục truyền thống giữ gìn bản sắc dân tộc của vùng quê kinh bắc và từng bước nâng cao phát triển văn hoá tiên tiến.

          Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển sâu rộng, các môn thể thao truyền thống được duy trì và phát triển; tổng số câu lạc bộ TDTT năm 1999 có 320, năm 2001 có 380, tổng số môn  thể thao được luyện tập phổ cập năm 1999 là 16, năm 2001 là 21.

          Các chương trình đào tạo, giải quyết việc làm  được đẩy mạnh; đã giải quyết việc làm cho hơn 10 vạn lao động, góp phần tăng hiệu suất sử dung lao động ở nông thôn và giảm tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị( hệ số sử dụng thời gian lao động ở nông thôn năm 1999 là 74,6%, năm 2002 là 77,3%, tăng 2,7%; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị năm 1999 là 6,77%, năm 2002 là 5,2%, giảm 1,57%). Chương trình xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh, đã giảm hộ nghèo từ 10,2% năm 2000, xuống còn 7,68% năm 2002 ( theo tiểu chí mới). Đời sống  các tâng lớ p dân cư ổn định và từng bước được nâng cao.

         

          Công tác quốc phòng an ninh được quan tâm đúng mức, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hôi được ổn định, không có diễn biến phức tạp xảy ra.


Bacninh Portal - Cổng giao tiếp điện tử Bắc Ninh - Giai đoạn 3 (Phiên bản đang tiếp tục xây dựng)
© Bản quyền thuộc UBND tỉnh Bắc Ninh. Trung tâm Tin học - UBND Bắc Ninh quản lý.
3C Soft - 3C Inc,. (Hiển thị tốt nhất ở chế độ màn hình 800 x 600)
Tổng số lượt truy cập: 8037922  -  Số lượt truy cập hiện tại: 59