KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

Mục tiêu

Mục tiêu phát triển công nghiệp trong giai đoạn 2001 - 2020 là tạo ra được sự chuyển dịch mạnh về cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, có khả năng thu hút lao động ở nông thôn, từ đó tạo tiền đề để nông nghiệp phát triển có hiệu quả hơn, đi vào thâm canh và sản xuất hàng hoá. Phát triển công nghiệp tạo cơ sở thúc đẩy quá trình đô thị hoá và cấu trúc lại sự phân bố dân cư trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở phát triển công nghiệp và nông nghiệp tất yếu sẽ kéo theo sự phát triển đồng bộ các ngành dịch vụ,và ngược lại dịch vụ phát triển sẽ tác động trở lại thúc đẩy các ngành sản xuất tăng trưởng nhanh hơn.

Giai đoạn  2001 - 2010: Sự phát triển công nghiệp trong giai đoạn này có nhiều yếu tố thuận lợi như: Đường cao tốc 18 từ Hạ Lonh qua Bắc Ninh đi sân bay Nội Bài đã bắt đầu được xây dựng, nâng cấp theo 4 làn xe, dự kiến sẽ hoàn thành năm 2005, đường 1B đoạn Bắc Ninh - Hà Nội với 4 làn xe sẽ hoàn thành vào năm 2002, đường 38 được cải tạo, nâng cấp sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế nói chung cũng như công nghiệp của Bắc Ninh nói riêng.

Quá trình phát triển công nghiệp trong giai đoạn này rất quan trọng, nó quyết định sự thanh đổi về chấtcủa quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và làm nền tảng để đưa Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015.

Tiếp tục đầu tư xây dựng và phát huy hiệu quả khu công nghiệp Tiên Sơn, Quế Võ, tạo môi trường thuận lợi thu hút nguồn vốn từ các nhà dầu tư trong và ngoài nước.

Từ những định hướng chung trên, đến năm 2010 công nghiệp Bắc Ninh phải đạt các mục tiêu cụ thể sau:

- Nhịp độ tăng trưởng GDP ngành công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 18,9%. Đến năm 2010 tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm 50,5% trong tổng số GDP của tỉnh, trong đó riêng công nghiệp đóng góp 43% (tính theo giá 1994).

- Hàng năm thu hút khoảng 5 0 6 nghìn lao động, dự kiến đến năm 2010 lao động công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 21,5% trong tổng số lao động xã hội của tỉnh.

 

Giai đoạn 2011 - 2020: Đâylà giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá nông thôn. Để tiếp tục tạo ra bước phát triển nhanh, cần thiết phải đầu tư chiều sâu, tăng cường mở rộng và khai thác hết công suất các khu công nghiệp tập trung Quế Võ và Tiên Sơn. Thị xã Bắc Ninh được xây dựng và đi vào thế ổn định cùng với sự hình thành các cụm công nghiệp tập trung Quế Võ và Tiên Sơn. Thị xã Bắc Ninh được xây dựng và đi vào thế ổn định cùng với sự hình thành các cụm công nghiệp ở các huyện, các công trình dịch vụ và các khu dân cư, tạo cục diện thay đổi sâu sắc ở các vùng nông thôn, phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, tăng nhanh tỷ lệ lao động phi nông nghiệp. Mục đích và mục tiêu ở giai đoạn này là phát triển công nghiệp với chất lượng mới, tăng cường cạnh tranh quốc gia cũng như quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu, làm mạnh thêm năng lực nội sinh tăng nhanh tiềm lực kinh tế tỉnh.

Để có được mục tiêu định lượng cho giai đoạn này là rất khó, tuy nhiên các vấn đề quan trọng, các mục tiêu định hướng cần lưu ý là:

- Hoạch định các chính sách công nghệ đúng đắn nhằn chọn lựa bước đi khi chuyển giao công nghệ, đảm bảo tốc độ tăng trưởng trong ngànhcông nghiệp cao và ổn định khoảng 11,5%.

- Phát huy lợi thế so sánh, phát triển mạnh các ngành công nghiệp kỹ thuật cao mang tính mũi nhọn như: điện tử, vật liệu cao cấp, công nghệ chế tác... đảm bảo một cơ cấu phát triển kinh tế hợp lý. Đến năm 2020 mục tiêu đặt ra là tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ khoảng 90% GDP (giá cố đinhj 1994).

Trên cơ sở phân tích nguồn lực, tính hợp lý của phân bố nguồn lực và khả năng thu hút đầu tư cũng như yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh, Bắc Ninh tiếp tục đầu tư, hoàn thiện và phát huy hiệu quả hai khu công nghiệp tập trung Tiên Sơn và Quế Võ.

 

1. Công nghiệp và KCN:

a. Khu công nghiệp tập trung Tiên Sơn

Khu công nghiệp tập trung Tiên Sơn thuộc các xã Đồng Nguyên, Tương Giang, Hoàn Sơn, Nội Duệ, cách Hà Nội 18 km, tổng diện tích dự kiến khoảng 300 ha (giai đoạn đầu triển khai xaay dựng 134 ha).

- Khu này nằm ở giữa hai đường quốc lộ 1A (cũ) và quốc lộ 1B mới, gần đường sắt, đường thuỷ và gần sân bay quốc tế, cách Nội Bài khoảng 30 km, rất thuận lợi về giao thông.

- Có nguồn điện 110 KV quốc gia đi qua khu vực (cách 4 km).

- Có nguồn vật liệu xây dựng thuận lợi

- Có nước ngầm đủ để phát triển công nghiệp

- Địa hình bằng phẳng, hệ thống thoát nước tốt (gần sông Đuống, cốt ca 4,5 m)

- Địa chất công trình tương đối tốt, thích hợp cho xây dựng công trình công nghiệp có qui mô vừa và nhỏ (2 - 4 tầng)

- Thuận lợi về liên lạc viễn thông, có đường cáp quang đi qua.

- Ngoài ra khu công nghiệp này nằm trong vùng có nhiều lao động làm nghề thủ công và nghề xây dựng.

Định hướng qui hoạch các ngành công nghiệp:

Đây là khu ccông nghiệp có nhiều điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý và các hạ tầng kỹ thuật, phù hợp với sự phát triển của một số ngành công nghiệp sạch và một số ngành khác với qui mô vừa và nhỏ như:

- Các nhà máy chế biến nông sản, thực phẩm, sản xuất, lắp ráp máy nông nghiệp, phụ tùng ô tô, xe máy, vật liệu xây dựng cao cấp, hàng tiêu dùng, hàng điện tử, tin học, tự động hoá, sản xuất bao bì, giấy, nhựa, xốp...

Số lao động thu hút khoảng 50 - 6- nghìn người; Dự tính nhu cầu điện khoảng 80.000 KVA và 25 - 35.000 m³ nước/ngày.

 

b. Khu công nghiệp tập trung Quế Võ

Khu công nghiệp này thuộc xã Phương Liễu, Vân Dương (Quế Võ), cách Bắc Ninh 6 km, nằm bên phải quốc lộ 18 (Bắc Ninh - Phả Lại) và gần diểm giao nhau giữa quốc lộ 18 và quốcc lộ 1B (mới), có quy mô 150 ha.

- Hiện tại có hai nhà máy liên doanh với Nhật và Pháp (Kính nổi và khí công nghiệp)

- Có nguồn điện 110 KV đi qua cách 2 km

- Có nguồn nước ngầm đủ đảm bảo cho sản xuất công nghiệp

- Khu công nghiệp được xây dựng trên vùng đất bạc màu, trồng lúa năng suất thấp, 2 vụ bấp bênh.

- Thuận lợi về liên lạc viễn thông, có đường cáp quang đi qua.

Định hướng qui hoạch các ngành công nghiệp:

Chủ yếu phát triển các sản phẩm thuộc ngành công nghiệp nặng như: Vật liệu xây dựng cao cấp, cơ khí, hoá chất phân bón, các ngành công nghiệp khác phục vụ nông nghiệp với quy mô vừa và nhỏ.

Dự kiến số lao động được thu hút vào khoảng 30.000 nghìn người, điện tiêu thụ khoảng 45.000 - 50.000 KVA và 15.000 - 20.000 m³ nước/ngày.

 

c. Các cụm công nghiệp khác

Trên cơ sở hoàn thiện và phát triển các cụm công nghiệp, các làng nghề truyền thống hiện có, trong định hướng 2001 - 2010, Bắc Ninh cần qui hoạch các cụm công nghiệp làng nghề và đa nghề ở các huyện, có quy mô từ 5 - 20 ha với những cơ sở sản xuất vừa và nhỏ sau đây:

Cụm công nghiệp Châu Khê, Đồng Quang, Đình Bảng, Tân Hồng (Từ Sơn); Hạp Lĩnh, Khắc Niệm, Phú Lâm, Liên Bão(Tiên Du); Thanh Khương, thị trấn Hồ (Thuận Thành); Đại Bái, Ngụ (Gia Bình); Táo Đôi, Kênh Vàng (Lương Tài); thị trấn Phố Mới (Quế Võ); Phong Khê, Đông Tiến, Núi (Yên Phong); Võ Cường, Đại Phúc (thị xã Bắc Ninh)...

Định hướng phát triển các cụm công nghiệp này là: sản xuất các sản phẩm truyền thống có lợi thế của địa phương, đồng thời bố trí các cơ sở công nghiệp chế biến nông snả thực phẩm, dệt da, may, sả xuất vật liệu xây dựng, cơ kim khí vừa và nhỏ...

 

2. Nông, lâm, ngư nghiệp:

a. Nông nghiệp:

Bắc Ninh là một tỉnh nông nghiệp, đất chật người đông, diện tích đất canh tác bình quân đầu người chỉ có 500,1 m² (năm 2000) thấp hơn cả bình quân của cả nước (869 m²) tương đương với bình quân của vùng đồng bằng sông Hồng. Nông nghiệp hiện nay vẫn là ngành sản xuất chính của tỉnh, mặc dù chưa phát triển hết tiềm năng hiện có về năng suất cây trồng vật nuôi, nhưng cũng góp phần giải quyết một cách cơ bản vấn đề lương thực cho tỉnh. Nông - lâm nghiệp chiếm một tỷ trọng 39,5% trong GDP, thu hút 80% lao động toàn xã hội, nhưng năng suất lao động nông nghiệp còn rất thấp.

Trong những năm tới có sự chuyển dịch mạnhcơ câu kinh tế trên địa bàn tỉnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng nông nghiệp giảm nhưng giá trị tuyệt đối của nông nghiệp vẫn tăng đáng kể. Để giảm bớt sự chênh lệch so với thành thị cũng như so với mức trung bình của tỉnh, trong những năm tới (2001 - 2005) nông nghiệp Bắc Ninh phải phát triển với nhịp độ 5,5%. Và thời kỳ 2001 - 2010 là 4,5%. Để đạt được nhịp độ tăng trưởng này, phải dựa trên cơ sở chuyển đổi mạnh cơ cấu trong bản thân ngành nông nghiệp là đẩy mạnh chăn nuôi, đưa các giống có năng suất cao chất lượng tốt vào trồng trọt và chăn nuôi, chuyển một số diện tích đất ở những nơi có điều kiện, gần thị trường sang trồng rau, cây trái và trồng hoa.

Một số biện pháp phát triển chủ yếu:

- Giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm, đi sâu thâm canh tăng năng suất cây trồng và vật nuôi. Phấn đấu đạt bình quân lương thực đầu người (cây có hạt) khoảng 498 kg năm 2005 và 506 kg năm 2010. Từng bước mở rộng phạm vi công nghiệp chế biến để tăng nhanh giá trị gia tăng đồng thời phục vụ nhu cầu các đô thị, các khu công nghiệp và xuất khẩu. Từ đó nâng cao giá trị sản xuất ngành trồng trọt trên một ha đất canh tác từ 22 triệu đồng năm 2000 lên 28 triệu đồng năm 2005 và 34 triệu đồng vào năm 2010 (giá 1994).

- Từng bước chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng: giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp. Tỷ trọng ngành chăn nuôi từ 31% năm 2000 lên 34% năm 2005 và 38% năm 2010.

- Hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi đã có, xây dựng thêm một số trạm bơm tưới tiêu, thực hiện tưới tiêu khoa học, thực hiện chương trình kiên cố hoá kênh mương.

- ứng dụng các tiến bộ về giống để tăng năng suất cây trồng vật nuôi, đồng thời sử dụng phân bón một cách hợp lý, khoa học tránh gây ô nhiễm và huỷ hoại môi trường.

- Phát triển nông nghiệp phải gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu nông thôn, phát triển công nghiệp nhỏ và công nghiệp chế biến với xây dựng và phát triển nông thôn. Trong quá trình đó, ngay từ đầu phải chú ý đến vấn đề bảo vệ môi trường.

b. Thuỷ sản:

Chủ yếu phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở các ao hồ nhỏ, xây dựng mô hình thâm canh ao cá theo kiểu công nghiệp kỹ thuật cao, đưa năng suất cá ao hồ từ 3,2 tấn/ha năm 2000 lên 6 - 7 tấn/ha năm 2005. Tập trung chuyển dịch những vùng trũng, sản xuất vụ mùa thường bấp bênh sang nuôi thuỷ sản (khoảng 2750 ha) chủ yếu ở các huyện Gia Bình, Lương Tài, từng bước hình thành vùng cá hàng hoá.

c. Lâm nghiệp:

Bắc Ninh là một tỉnh chủ yêu là đồng bằng, chỉ có 1.108,1 ha đất đồi núi. Hầu hết đất đồi núi đều bị thoái hoá nghiêm trọng, muốn trồng rừng có kết quả cần phải đầu tư cao và tăng cường chỉ đạo các biện pháp cải tạo làm taưng độ phì của đất.

Phương hướng phát triển lâm nghiệp của tỉnh trong những năm tới là xây dựng các khu rừng đặc dụng cảnh quan môi trườngvà trồng cây xanh phân tán ở các trục đường, công viên, nơi làm việc của các aơ quan. Đối với rừng đặc dụng cảnh quan, cần có chính sách giao đất cho dân trồng và bảo vệ, tỉnh hỗ trợ kinh phí và giống cây trồng. Thực hiện dự án 661 trồng rừng cảnh quan môi trường.

d. Thương mại, dịch vụ:

- Phát triển thương mại, dịch vụ ở thị xã, thị trấn, khu, cụm công nghiệp.

- Phát triển thương mại, dịch vụ ở nông thôn nhất là các ngành phục vụ sản xuất nông - công nghiệp như: cung ứng vật tư, thiết bị, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, mở rộng dịch vụ vận tải...

- Phát triển du lịch, đẩy mạnh xuất khẩu.

 

3. Văn hoá - xã hội:

 

- Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở vào năm 2002, mở rộng đào tạo hướng nghiệp, dạy nghề, nâng tỷ trọng người lao động được đào tạo nghề trong tổng số lao động lên 28% vào năm 2005. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài"

- Nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh, thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá gia đình, giảm tỷ lệ sinh mỗi năm là 0,3 - 0,5%.

- Thực hiện nhiều giải pháp để khuyến khích phát triển và mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm mới. Thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, phấn đấu đến năm 2005 giảm hộ nghèo xuống dưới 10%.

- Thực hiện tốt phong trào đền ơn, đáp nghĩa, chăm sóc phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, các đối tượng có công với cách mạng, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước... Có chính sách xã hội để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn...

- Phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá cộng đồng, xây dựng làng, khu phố và gia đình văn hoá mới, giữ gìn, phát huy và khai thác có hiệu quả vốn văn hoá Quan họ Bắc Ninh.

- Đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng. Quy hoạch và có chính sách bồi dưỡng tài năng thể dục thể thao đối với các lĩnh vực có điều kiện. 

 

4. An ninh - quốc phòng:

 

Thực hiện tốt công tác quân sự địa phương và chính sách hậu phương quân đội, góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang chính quy hiện đại. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, đáp ứng kịp thời yêu cầu và nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Thường xuyên rà soát và kịp thời bổ sung, hoàn chỉnh kế hoạch, phương án phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu chống gây rối và bạo loạn trong mọi tình huống.

Tập trung xây dựng dân quân tự vệ và lực lượng dự bị động viên đảm bảo khả năng sẵn sàng chiến đấu, tham gia giữ gìn trật tự trị an ở cơ sở. Đảm bảo an ninh xa hội trên địa bàn tỉnh.


Bacninh Portal - Cổng giao tiếp điện tử Bắc Ninh - Giai đoạn 3 (Phiên bản đang tiếp tục xây dựng)
© Bản quyền thuộc UBND tỉnh Bắc Ninh. Trung tâm Tin học - UBND Bắc Ninh quản lý.
3C Soft - 3C Inc,. (Hiển thị tốt nhất ở chế độ màn hình 800 x 600)