Đặc điểm tự nhiên, kinh tế–xã hội và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2004-2005?xml:namespace> I. Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên1. Vị trí địa lý kinh tế của tỉnh trong vùng và cả nước.Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ Đô Hà Nội, trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời.Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương. Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có các hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như quốc lộ
1A nối Hà Nội – Bắc Ninh – Lạng Sơn; Đường cao tốc 18 nối sân bay Quốc tế Nội Bài – Bắc Ninh – Hạ Long; Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh – Hải Dương – Hải Phòng; Trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc Ninh đi Lạng Sơn và Trung Quốc; Mạng đường thủy sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Binh rất thuận lợi nối Bắc Ninh với hệ thống cảng sông và cảng biển của vùng tạo cho Bắc Ninh là địa bàn mở gắn với phát triển của thủ đô Hà Nội, theo định hướng xây dựng các thành phố vệ tinh và sự phân bố công nghiệp của Hà Nội. Đây là những yếu tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội và giao lưu của Bắc Ninh với bên ngoài. Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng và là một trong 8 tỉnh thuộc vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh của cả nước, tạo cho Bắc Ninh nhiều lợi thế về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Là cửa ngõ phía Đông Bắc và là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và trên hành lang kinh tế Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng – Ha Long và có vị trí quan trọng vềan ninh quốc phòng. Thị xã Bắc Ninh chỉ cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 30 km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 45km, cách Hải Phòng 110 km. Vị trí địa kinh tế liền kề với thủ đô Hà Nội, trung tâm kinh tế lớn, một thị trường rộng lớn hàng thứ hai trong cả nước, có sức cuốn hút toàn diện về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, giá trị lịch sử văn hoá, đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước. Hà Nội sẽ là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh về nông - lâm - thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ. Bắc Ninh cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố vệ tinh, là mạng lưới gia
công cho các xí nghiệp của thủ đô trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Với vị trí địa kinh tế thuận lợi sẽ là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong những tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy quá trình đô thị hoá của tỉnh Bắc Ninh. Xét trên khía cạnh cấu trúc hệ thống đô thị và các điểm dân cư của tỉnh thì các đô thị Bắc Ninh sẽ dễ trở thành một hệ thống hoà nhập trong vùng ảnh hưởng của thủ đô Hà Nội và có vị trí tương tác nhất định với hệ thống đô thị chung toàn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. 2. Khả năng khai thác các tiềm năng về tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên vào phát triển kinh tế - xã hội của Bắc Ninh đến năm 20202.1.Về khí hậu. Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và không khác biệt nhiều so với các tỉnh lân cận của đồng bằng sông Hồng. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển các vùng rau, hoa quả, chăn nuôi, tạo ra giá trị lớn trên một đơn vị diện tích. 2.2. Về địa hình - địa chất. Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình. Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3 - 7 m, địa hình trung du đồi núi có độ cao phổ biến 300 - 400m. Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ ( 0,53% ) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở 2 huyện Quế Võ và Tiên Du. Ngoài ra còn một số khu vực thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ, Yên Phong. Đặc điểm địa chất mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất thuộc vùng trũng sông Hồng, bề dày trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt của cấu trúc mỏng. Tuy nhiên nằm trong miền kiến tạo Đông Bắc, Bắc bộ nên cấu trúc địa chất lãnh thổ Bắc Ninh có những nét còn mang tính chất của vòng cung Đông Triều vùng Đông Bắc. Toàn tỉnh có mặt các loại đất đá có tuổi từ Cambri đến đệ tứ song nhìn chung có thành tạo Kainozoi phủ trên các thành tạo cổ. Đây là thành tạo chiếm ưu thế về địa tầng lãnh thổ. Các thành tạo Triat phân bố trên ở hầu hết các dãy núi, thành phần thạch học chủ yếu là cát kết, sạn kết. Bề dày các thành tạo đệ tứ biến đổi theo quy luật trầm tích từ Bắc xuống
Nam. ở các vùng núi do bị bóc mòn nên bề dày của chúng còn rất mỏng, càng xuống phía Nam bề dày có thể đạt tới 100 m, trong khi đó vùng phía Bắc ( Đáp Cầu ) bề dày chỉ đạt 30 - 50 m. Với đặc điểm này địa chất của tỉnh Bắc Ninh có tính ổn định hơn so với Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng Bắc bộ khác trong việc xây dựng công trình. Bên cạnh đó có một số vùng trũng nếu biết khai thác có thể tạo ra cảnh quan sinh thái đầm nước vào mùa mưa để phục vụ cho các hoạt động văn hoá và du lịch. 2.3. Về đặc điểm thuỷ văn. Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mật độ lưới sông khá cao, trung bình 1,0 - 1,2 km/km, có 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình. Sông Đuống: Có chiều dài 42 km nằm trên đất Bắc Ninh, tổng lượng nước bình quân 31,6 tỷ m. Mực nước cao nhất tại bến Hồ tháng 8/1945 là 9,64m, cao hơn so với mặt ruộng là 3 - 4 m. Sông Đuống có hàm lượng phù sa cao, vào mùa mưa trung bình cứ 1 m nước có 2,8 kg phù sa. Sông Cầu: Tổng chiều dài sông Cầu là 290 km với đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 70 km, lưu lượng nước hàng năm khoảng 5 tỷ m. Sông Cầu có mực nước trong mùa lũ cao từ 3 - 6 m, cao nhất là 8 m, trên mặt ruộng 1 - 2 m, trong mùa cạn mức nước sông lại xuống quá thấp ( 0,5 - 0,8 m ). Sông Thái Bình: thuộc vào loại sông lớn của miền Bắc có chiều dài 385 km, đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 17 km. Do phần lớn lưu vực sông bắt nguồn từ các vùng đồi trọc miền Đông Bắc, đất đai bị sói mòn nhiều nên nước sông rất đục, hàm lượng phù sa lớn. Do đặc điểm lòng sông rộng, ít dốc, đáy nông nên sông Thái Bình là một trong những sông bị bồi lấp nhiều nhất. Theo tài liệu thực đo thì mức nước lũ lụt lịch sử sông Thái Bình đo được tại Phả Lại năm 1971 đạt tới 7,21 m với lưu lượng lớn nhất tại Cát Khê là 5000 m3/s. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ huyện Khê, sông Dân, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình. Với hệ thống sông này nếu biết khai thác trị thuỷ và điều tiết nước sẽ đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tiêu thoát nước của tỉnh. Trong khi đó tổng lưu lượng nước mặt của Bắc Ninh ước khoảng 177,5 tỷ m, trong đó lượng nước chủ yếu chứa trong các sông là 176 tỷ m; được đánh giá là khá dồi dào. Cùng với kết quả thăm dò địa chất cho thấy trữ lượng nước ngầm cũng khá lớn, trung bình 400.000 m/ngày, tầng chứa nước cách mặt đất trung bình 3 - 5 m và có bề dày khoảng 40 m, chất lượng nước tốt. Toàn bộ nguồn nước này có thể khai thác để phục vụ chung cho cả sản xuất và sinh hoạt trong toàn tỉnh, trong đó có các hoạt động của đô thị. 2.4. Tài nguyên thiên nhiên 241.Tài nguyên rừng: Tài nguyên rừng của Bắc Ninh không lớn, chủ yếu là rừng trồng. Tổng diện tích đất rừng khoảng 660 ha, phân bố tập trung ở Quế Võ và Tiên Du. 2.4.2.Tài nguyên khoáng sản: Bắc Ninh nghèo về tài nguyên khoáng sản, ít về chủng loại, chủ yếu chỉ có vật liệu xây dựng như: đất sét làm gạch, ngói, gốm, với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở Quế Võ và Tiên Du, đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã Bắc Ninh, đá cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu - Bắc Ninh, đá sa thạch ở Vũ Ninh - Bắc Ninh có trữ lượng khoảng 300.000 m. Ngoài ra còn có than bùn ở Yên Phong với trữ lượng 60.000 - 200.000 tấn. 2.4.3.Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 807,57 km2, trong đó đất nông nghiệp chiếm 60,38%; đất lâm nghiệp chiếm 0,74%, đất chuyên dùng và đất ở chiếm 25,06%, đất chưa sử dụng còn 9,7%. Nhìn chung tiềm năng đất đai của tỉnh vẫn còn lớn. Biểu 1: Cơ cấu sử dụng đất năm2003
| Diện tích (ha) | Cơ cấu (%) | Tổng số | 80.757 | 100,0 | Đất nông nghiệp | 48.759 | 60,38 | Đất nuôi trồng thủy sản | 3.335 | 4,13 | Đất lâm nghiệp | 598 | 0,74 | Đất chuyên dùng | 14.527 | 17,99 | Đất ở | 5.708 | 7,07 | Đất chưa sử dụng | 7.830 | 9,70 |
2.4.4. Tài nguyên nhân văn, du lịch Bắc Ninh có tiềm năng văn hóa phong phú, đậm đà bản sắt dân tộc. Miền đất Kinh Bắc xưa là vùng đất địa linh nhân kiệt, quê hương của Kinh Dương Vương, Lý Bát Đế, nơi hội tự của kho tàng văn hóa nghệ thuật đặc sắc voíư những làn điệu Quan họ trữ tình đằm thắm, dòng nghệ thuật tạo hình, tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng. Con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hóa Kinh Bắc, mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, vẽ tranh dân gian... cộng với nhiều cảnh quan đẹp là tiềm năng lớn để phát triiển du lịch văn hóa, lễ, du lịch sinh thái, du lịchthắng cảnh, du lị
ch làng nghề, du lịch làng Việt cổ a. Các di tích lịch sử văn hoá Bắc Ninh có rất nhiều các di tích lịch sử, văn hoá, mật độ phân bố các di tích chỉ đứng sau Thủ đô Hà Nội. Tính đến 31/12/2001, toàn tỉnh có 233 di tích lịch sử, văn hoá được cấp bằng công nhận di tích cấp Quốc gia và cấp địa phương. Các địa phương tạp trung nhiều di tích lịch sử xếp hạng quốc gia là Từ Sơn, Yên Phong, thị xã Bắc Ninh, Yên Du. Bắc Ninh có nhiều di tích có giá trị lịch sử văn hoá quan trọng không chỉ trong phạm vi tỉnh mà có ý nghĩa quốc gia, quốc tế như: Đền Đô, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích, chùa Dạm, Văn Miếu... b. Lễ hội truyền thống Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 41 lễ hội đáng chú ý trong năm được duy trì. Trong đó có những lễ hội có ý nghĩa đặc biệt và có tầm ảnh hưởng lớn như: Hội chùa Dâu, hội Lim, hội đền Đô, hội đền Bà Chúa Kho... Tất cả các lễ hội mang đậm nét đặc trưng cho lễ hội cổ truyền của vùng Kinh Bắc độc đáo, đặc sắc mang nhiều bí ẩn tín ngưỡng về những đấng thần linh, anh hùng dân tộc. Mỗi lễ hội giống như một viện bảo tàng sống về văn hóa, truyền thống, mang đậm bản sắc dân tộc với những lễ nghi tôn giáo và những trò chơi dân gian. Tài nguyên du lịch nhân văn của Bắc Ninh khá đa dạng và phong phú với nhiều loại hình khác nhau, nhưng nổi bật nhất và được nhiều người biết đến là các di tích lịch sử, văn hoá, tiêu biểu là đình, chùa và dân ca Quan Họ Bắc Ninh. c. Ca múa nhạc Dân ca Quan họ là một đặc trưng nổi bật và đặc sắc của Bắc Ninh, sự nổi tiếng của dân ca Quan họ đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia. d. Các làng nghề Bắc Ninh Nhờ có vị tríliền kề với thủ đô Hà Nội qua nhiều thế kỷ - Bắc Ninh xưa nay vốn là vùng có nhiều nghề thủ công nổi tiếng như : Làng tranh dân gian Đông Hồ, Làng gốm Phù Lãng, Làng đúc đồng Đại Bái, làng rèn Đa Hội, làng dệt Lũng Giang, Hồi Quan, sơn mài Đình Bảng, chạm khắc Đồng Kỵ, làng nghề Tre trúc Xuân Lai ... Ngày nay nhiều làng nghề đã bị mai một, việc khôi phục và phát triển các làng nghề vừa để phát triển kinh tế địa phương vừa để phát triển du lịch được tỉnh quan tâm với việc quy hoạch, xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề tập trung.Do vậy đến đây du khách không chỉ được xem nghệ
nhân làmnghề, mua sản phẩm mà còn có thể trực tiếp thamdự các hoạt động xã hội.e. Tài nguyên du lịch sinh thái Địa hình Bắc Ninh có xen lẫn đồi núi sót với độ cao từ 20 đến 120m so với mặt biển, đồi núi sót lại thường gần các con sông và các thung lũng có thể tạo thành hồ nước rộng hàng chục ha với những di tích lịch sử, văn hoá như đền, chùa, miếu mạo tạo nên khung cảnh sơn thuỷ hữu tình. Đó là điều kiện rất thuận lợi để tạo ra môi trường sinh thái quan trọng cho các điểm Du lịch. Bắc Ninh nằm trong vùng văn minh châu thổ sông Hồng, có 3 con sông lớn chảy qua các làng mạc, thôn xóm và bồi đắp hình thành các bãi bồi ven sông xanh ngắt bãi lúa, nương dâu là điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, làng quê Kinh Bắc. 3. Đặc điểm dân số, nguồn nhân lực .3.1. Đặc điểm dân số. Năm 2004, ước tính dân số Bắc Ninh là 987 ngàn người. Tốc độ tăng trưởng dân số là 1,01%, trong đó, tốc độ tăng dân số tự nhiên của Bắc Ninh (1,09%); biến động cơ học không đáng kể (-0,08%). Nếu năm 2002, tốc độ tăng dân số tự nhiên của Bắc Ninh (1,16% ) tương đương mức trung bình cả nước (1,17%) và cao hơn mức trung bình của vùng Đồng bằng Sông Hồng (1,09%) thì năm 2004, chỉ số này của Bắc Ninh đã có tiến bộ hơn. Ước tính, năm 2005, dân số Bắc Ninh là 996,5 ngàn người. Cơ cấu dân số Bắc Ninh thuộc loại trẻ: nhóm 0-14 tuổi chiếm tới 27,7%; nhóm 15-64 tuổi khoảng 66% và 6,3%số người trên 65 tuổi. Do đó, tỉ lệ nhân khẩu phụ thuộc còn cao (0,59).
Dân số nữ chiếm tới 51,73% tổng dân số của tỉnh, cao hơn so với tỉ lệ tương ứng của cả nước (50,83%). Kết quả này có thể do nguyên nhân kinh tế – xã hội là chủ yếu. Phân bố dân cư Bắc Ninh mang đậm sắc thái nông nghiệp, nông thôn với tỉ lệ 89,6%, dân số sống ở khu vực thành thị chỉ chiếm 10,47%, chưa bằng 1/2 tỉ lệ dân đô thị của cả nước. Mật độ dân số trung bìnhcủa tỉnh là 1226 người/km2. Dân số phân bố không đều giữa các huyện/thị. Mật độ dân số của Quế Võ và Gia Bình chỉ bằng khoảng 1/3 của TX Bắc Ninh và 1/2 của Từ Sơn. 3.2. Nguồn nhân lực: Ước tính 2005, dân số trong độ tuổi lao động chiếm 62,6% tổng dân số, tương đương với khoảng 624 ngàn người. Như vậy, trong 5 năm 2001-2005, mức gia tăng dân số trong tuổi lao động tăng hàng năm khoảng 27,8 ngàn với tốc độ bình quân 5,16%/năm. Nguồn nhân lực chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn. Nguồn nhân lực trẻ và chiếm tỉ trọng cao, một mặt là lợi thế cho phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh; mặt khác, cũng tạo sức ép lên hệ thống giáo dục-đào tạo và giải quyết việc làm. Chất lượng của nguồn nhân lực được thể hiện chủ yếu qua trình độ học vấn và đặc biệt là trình độ chuyên môn kĩ thuật. Trình độ học vấn của NNL Bắc Ninh cao hơn so với mức trung bình cả nước nhưng thấp hơn so với mức trung bình của ĐB Sông Hồng và vùng KTTĐ Bắc Bộ. Tuy chỉ còn 1,12% NNL mù chữ, 6,92% chưa tốt nghiệp tiểu học, 70,6% tốt nghiệp tiểu học và THCSnhưng số tốt nghiệp THPT chỉ 21,36%. Năm 2003, tỉ lệ LĐ qua đào tạo CMKT của Bắc Ninh là 24,8%, trong đó số có bằng từ CNKT trở lên chiếm 11,31%. Như vậy, chất lượng NNL Bắc Ninh cao hơn mức trung bình cả nước (20,99% & 11,83%)nhưng thấp hơn chỉ tiêu tương ứng của ĐB Sông Hồng (27,99% & 15,76%) và vùng KTTĐ Bắc Bộ (30,04% & 18,11%). Năm 2005, ước tính tỉ lệ LĐ qua đào tạo đạt mục tiêu của ĐH Đảng bộ tỉnh lần thứ 16 đề ra (28%), tương đương với mức trung bình của ĐB Sông Hồng năm 2003. Trình độ phát triển của NNL còn thể hiện qua trình độ phân công lao động theo nhóm ngành/ngành. Tổng số lao động đang làm việc 551,7 ngàn người (2003), trong đó khoảng 376,2 ngàn (68,2%) làm việc trong nhóm ngành nông lâm ngư, 104,7 ngàn người (19,0%) làm việc trong nhóm CN&XD và 70,7 ngàn người (12,8%) làm việc trong khu vực dịch vụ. Trình độ phân công lao động theo 3 nhóm ngành lớn của Bắc Ninh kém hơn so với mức trung bình của vùng KTTĐ Bắc Bộ (52,54%; 21,8%; 25,62%) và ĐB Sông Hồng (56,9%; 20,4% & 22,8%) trong cùng năm 2003. Mặc dù còn khó khăn về vốn cũng như đào tạo nghề đáp ứng yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm cho số người trong tuổi lao động tăng thêm hàng năm và số lao động còn thiếu việc làm, trong 4 năm 2001-2004, bình quân mỗi năm Bắc Ninh đã giải quyết được việc làm cho 14 ngàn lao động, tăng 27% so với mục tiêu của ĐH Đảng bộ tỉnh. Kết quả nói trên đã góp phần giảm tỉ lệ thất nghiệp (4,87% - 2003, thấp hơn so với mức TB của ĐB sông Hồng và một số tỉnh thuộc vùng KTTĐ Bắc Bộ), tăng hệ số sử dụng thời gian lao động nông thôn (78,76%, cao hơn so với ĐB sông Hồng là 78,25% - 2003), giảm tỉ lệ đói nghèo (theo chuẩn mới) còn 5,8% (2003) và ước đạt 4,5% (2004);
đồng thời cải thiện một bước mức sống của dân cư.
II. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2004-2005 1. Đánh giá tổng quát kết quả đạt được so với mục tiêu Đại hội Đảng bộ Tỉnh Bắc Ninh. Trong 5 năm 2001-2005 đã có bước phát triển nhanh, ước đạt khoảng 13,9%/năm (mục tiêu đại hôi 13,0%), gấp 1,8 lần mức bình quân của cả nước và phát triển tương đối toàn diện cả về kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, nhiều chỉ tiêu phát triển đạt và vượt mục tiêu đề ra của kế họch 5 năm 2001-2005. Biểu 2: Một số chỉ tiêu ước thực hiện so với mục tiêu Đại hhọi của Đảng bộ Tỉnh Chỉ tiêu | Đơn vị | Mục tiêu Đại hội | ứơc TH KH 5 năm | Thực hiện | % so Đại hôi | I. Chỉ tiêu kinh tế |
|
|
|
| 1. Nhịp độ tăng trưởng GDP bq/năm | % | 13,0 | 13,9 | 106,9 | -Công nghiệp xây dựng | % | 19,5 | 20,3 | 104,1 | * Riêng cụng nghi?p | % | 22 | 22,45 | 102,0 | -Nông, lâm, ngư nghiệp | % | 5,5 | 5,2 | 94,5 | -Khu vực dịch vụ | % | 14,8 | 14,9 | 100,6 | 2. Cơ cấu GDP | % | 100 | 100 |
| -Công nghiệp xây dựng | % | 45,1 | 46,5 | +1,4 | -Nông, lâm, ngư nghiệp | % | 26,6 | 25,3 | -1,3 | -Khu vực dịch vụ | % | 28,3 | 28,2 | -0,1 | 3.Tổng GTSX công nghiệp | Tỷ đ | 5300 | 6800 | 128,3 | - Công nghiệp Địa phương | Tỷ đ | 2120 | 4100 | 193,4 | 4.Tổng GTSX nông nghộêp | Tỷ đ | 2050 | 2074,3 | 101,2 | 5.ểan lượng cây có hạt. | 103 T | 500 | 460 | 92,0 | 6.SL cây có hạt bq/người | kg | 500 | 461,4 | 92,3 | 7.GTSX nông nghiệp/ha canh tác | Tr. đ | 50 | 44,95 | 89,9 | 9.GT trồng trọt/ ha canh tác | Tr. đ | 33 | 26,5 | 80,3 | 10.Tổng kim ngạch xuất khẩu | Tr.USD | 115 | 65 | 56,5 | 11. Tổng kim ngạch nhập khẩu | |
|