Quy hoạch sử dụng đất đai
Khái quát điều kiện tự nhiên, thực trạng phát triển kinh tế xã hội và tình hình quản lý sử dụng đất
Thứ Tư, 20/04/2005 - 9:15 PM


1. Điều kiện tự nhiên

1.1. Vị trí địa lý và ranh giới hành chính

Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong châu thổ sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội. Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh.

Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang

Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và một phần Hà Nội

Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương

Phía Tây giáp thủ đô Hà Nội

Với vị trí như trên, Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh:

- Có các tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua như QL1A, QL18, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và các tuyến đường thuỷ như: sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình nên rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá và hành khách giao lưu với các tỉnh trong cả nước.

- Gần thành phố Hà Nội là một thị trường rộng lớn, đồng thời cũng là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước. Hà Nội sẽ là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh như Nông - Lâm - Thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ... Bắc Ninh cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố vệ tinh, là mạng lưới gia công của các xí nghiệp công nghiệp của thủ đô trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

- Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh sẽ có tác động trực tiếp đến hình thành cơ cấu và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bắc Ninh về mọi mặt, trong đó đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ du lịch.

- Là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh là cầu nối giữa Hà Nội với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và có vị trí quan trọng đối với an ninh quốc phòng.

Vị trí địa lý thuận lợi là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong các tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói chung và phát triển nông nghiệp nông thôn nói riêng.

1.2. Địa hình

Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình. Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3 - 7m, địa hình đồi núi sót có độ cao phổ biến 40 - 50m. Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở 2 huyện Quế Võ và Tiên Du. Ngoài ra, còn một số khu vực thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ, Yên Phong.

1.3. Đặc điểm khí hậu

Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh. Nhiệt độ trung bình năm 23,3oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,9oC (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8oC (tháng 1). Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,1oC.

Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1.400 - 1.600mm nhưng phân bố không đều trong năm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm.

Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.530 - 1.776 giờ, trong đó tháng có nhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng là tháng 1.

Hàng năm có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam. Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm, gây mưa rào.

Nhìn chung Bắc Ninh có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú. Mùa Đông với khí hậu khô, lạnh làm cho vụ đông trở thành vụ chính có thể trồng được nhiều loại cây rau màu ngắn ngày cho giá trị cao và xuất khẩu. Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với sử dụng đất là mưa lớn tập trung theo mùa thường làm ngập úng các khu vực thấp trũng gây khó khăn cho việc thâm canh tăng vụ mở rộng diện tích.

1.4. Thổ nhưỡng

Theo bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/25.000 toàn tỉnh Bắc Ninh do Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp xây dựng năm 2000 thì trên địa bàn tỉnh có các loại đất chính sau:

- Bãi cát ven sông, diện tích 110,9ha.

- Đất phù sa được bồi của hệ thống sông Hồng, diện tích 2.213,78ha.

- Đất phù sa được bồi của hệ thống sông Thái Bình, diện tích 630,4ha.

- Đất phù sa không được bồi, không có tầng gley và loang lổ của hệ thống sông Hồng, diện tích 5.688,02ha.

- Đất phù sa không được bồi của HT Sông Thái Bình, diện tích 1.523,3ha.

- Đất phù sa gley của hệ thống sông Hồng, diện tích 11.148,95ha.

- Đất phù sa gley của hệ thống sông Thái Bình, diện tích 10.916,74ha.

- Đất phù sa có tầng loang lổ của HT S.Hồng, diện tích 4.047,9ha.

- Đất phù sa có tầng loang lổ của hệ thống sông Thái Bình, diện tích 5.146,93ha.

- Đất phù úng nước, diện tích 3.285,23ha.

- Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, diện tích 4.505,8ha.

- Đất xám bạc màu gley, diện tích 952,69ha.

- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, diện tích 126ha.

- Đất vàng nhạt trên đá cát và dăm cuội kết, diện tích 764,18ha.

- Đất xói mòn trơ sỏi đá, diện tích 224,25ha.

2. Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội

2.1. Khái quát thực trạng phát triển kinh tế xã hội

Bảng 1. Một số chỉ tiêu về phát triển KTXH tỉnh Bắc Ninh

giai đoạn 1995 – 2005

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

1995

2000

2003

2004

2005

1. Tổng sản phẩm trong tỉnh GDP

1429.7

2288.3

3671.9

4181.2

4766.6

(theo giá so sánh 1994)

Nông - Lâm nghiệp

Tỷ đồng

678.5

737.4

1096.5

1149.2

1209

Công nghiệp - XDCB

Tỷ đồng

343.3

880.2

1554.1

1862.1

2214.6

Dịch vụ

Tỷ đồng

407.9

670.7

1021.3

1169.9

1343

2. Cơ cấu tổng sản phẩm

Nông - Lâm nghiệp

%

47.5

37.7

29.0

26.5

25.3

Công nghiệp - XDCB

%

24.0

35.3

43.9

46.2

46.5

Dịch vụ

%

28.5

27.0

27.1

27.3

28.2

3. Bình quân lương thực đầu người

kg

320.7

476.4

470

461

461

4. GDP bình quân đầu người

USD

248

365

427

479

(Giá cố định năm 1994)

(Nguồn : Cục Thống kê Bắc Ninh)

Thời kỳ 2001 – 2005, tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh phát triển khá, quy mô nền kinh tế lớn mạnh không ngừng, năm 2005 lớn gấp 1,9 lần so với năm 2000 và gấp 2,8 lần so với năm 1997 (năm đầu tái lập tỉnh). Tốc độ tăng trưởng luôn ở mức cao và ổn định, bình quân 5 nămđạt 13,9%/năm (gấp 1,8 lần mức bình quân của nhà nước) . Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng Công nghiệp – XDCB trong tổng GDP đã tăng mạnh từ 35,6% năm 2000 lên 47% vào năm 2005, dịch vụ từ 26,4% lên 28%, Nông nghiệp giảm từ 38% xuống còn 25%. Sản xuất công nghiệp luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, từ n ăm 2001 tỷ trọng công nghiệp - XDCB đã vượt lên trên tỷ trọng nông nghiệp vàngày càng tăng cao trong cơ cấu GDP, nhất là kinh tế khu vực ngoài quốc doanh. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất, hàng hoá, cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng hiệu quả cao, các loại giống cây con mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng rộng rãi. Khu vực dịch vụ có nhiều chuyển biến, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng mạnh… Thu ngân sách trên địa bàn đạt kết quả cao, từ năm 2000đến năn 2005 bình quân tăng 34,7% năm. Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất nông nghiệp chuyển mục đích sử dụng tuy có lúc, có nơi gặp nhiều khó khăn vướng mắc nhưng đều được giải quyết, tạo mặt bằn g cho các dự án đầu tư tạo nguồn quỹ vốn cho đầu tư phát triển. Thu hút vốn đầu tư, nhất là nguồn vốn từ các thành phần kinh tế trong nước đầu tư vào sản xuất đạt kết quả khá. Chất lượng hoạt động các lĩnh vực văn hoá, xã hội tiếp tục được nâng lên. Đã xoá hộ đói, giảm hộ nghèo xuống 4%, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện một bước. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được ổn định, công tác quốc phòng được củng cố.

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 13,9%/năm (mục tiêu đại hội 13,5%).

- Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005: 6.800 tỷ đồng (mục tiêu đại hội 5.300 tỷ đồng) vượt 2,8%, trong đó công nghiệp địa phương 4.100 tỷ đồng chiếm 60,2% (mục tiêu đại hội là 40%) giá trị sản xuất nông nghiệp 2.215,8 tỷ đồng (mục tiêu đại hội là 2.050 tỷ đồng) vượt 8%, giá trị sản xuất trồng trọt/ha canh tác năm 2005 ước đạt 34,5 triệu đồng (mục tiêu đại hội là 33 triệu đồng).

- Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là 25 - 47 - 28% (mục tiêu đại hội là 26,6 - 45,1 - 28,3%).

- Thu ngân sách năm 2005 là 1.011 tỷ đồng, gấp 2,4 lần mục tiêu đại hội.

- Hoàn thành phổ cập giáo dục THCS năm 2002, sớm hơn mục tiêu đại hội một năm.

- Một năm bình quân giải quyết việc làm cho 14.000 lao động (mục tiêu đại hội 10 – 12.000 lao động), tăng 27%.

- Tỷ lệ lao động được đào tạo 28% (bằng mục tiêu đại hội)

- Tỷ lệ phát triển dân số năm 2005 là 1,05% (bằng mục tiêu đại hội)

- Xoá hộ đói, giảm hộ nghèo còn 4% (mục tiêu đại hội là dưới 10%).

- Đạt 14,1 máy điện thoại/100 dân (năm 2004), cao hơn bình quân cả nước 13,5 máy (mục tiêu đại hội 4 – 5 máy/100 dân).

- Tỷ lệ phòng học được xây kiên cố năm 2004 đạt 82,7% (mục tiêu đại hộinăm 2005 là 85%).

- GDP bình quân đầu người năm 2000 là 248 USD, năm 2001 là 295 USD, năm 2005 là 479 USD (giá thực tếlà 3,539 triệu đồng -4,142 triệu đồng - 7,554 triệu đồng).

2.2 Nông - lâm - ngư nghiệp

- Năm năm qua, sản xuất nông - lâm nghiệp - thuỷ sản gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng khá, tăng bình quân 5,22%/năm. Giá trị sản xuất, năng suất, chất lượng được nâng lên, đến năm 2005 đạt 1.149,2 tỷ đồng (giá 1994).

- Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 38% (năm 2000) xuống còn 25% (năm 2005). Cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch tích cực: tỷ trọng ngành trồng trọt giảm dần từ 68,4% năm 2000 xuống còn 57% năm 2004, ngành chăn nuôi - thuỷ sản từ 28,4% tăng lên 38%.

a. Trồng trọt

Đã chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung và từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao giá trị làm ra/đơn vị canh tác (34,5 triệu đồng/ha). Diện tích gieo trồng cây hàng năm ổn định ở mức 120.000 ha/năm, trong đó khoảng 86,5% cây lương thực; 9,9% cây thực phẩm; 3,6% cây công nghiệp. Bước đầu đã hình thành một số vùng sản xuất nông sản tập trung như: lúa tám xoan ở Quế Võ (gần 200ha), vùng nếp Từ Sơn 150ha, vùng hoa, rau ven thị xã Bắc Ninh, Việt Hùng, Đào Viên (Quế Võ), vùng cá có quy mô trên 100ha Bình Dương, Nhân Thắng (Gia Bình), An Thịnh, Phú Hoà, Trừng Xá (Lương Tài), vùng bò sữa ở Cảnh Hưng, Tri Phương (Tiên Du).

Năng suất các các loại cây trồng đã được nâng lên do áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới về giống, về kỹ thuật thâm canh, năng suất lúa từ 52,6 tạ/ha năm 2000 lên 55,5 tạ/ha năm 2004, tăng 5,5%, năng suất ngô từ 26,3 tạ/ha lên 31,3 tạ/ha… Do năng suất các loại cây trồng tăng nên mặc dù diện tích gieo trồng giảm từ 92.183ha năm 2000 còn 83.248ha năm 2004 nhưng sản lượng lương thực có hạt vẫn tăng từ 453,1 ngàn tấn lên 456,2 ngàn tấn. Chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng đã diễn ra khá, cơ cấu mùa vụ được chuyển dịch theo hướng tăng diện tích lúa xuân muộn và mùa trung, giảm diện tích xuân sớm, xuân trung.

b. Chăn nuôi

Những năm qua, ngành chăn nuôi phát triển khá, giá trị sản xuất tăng bình quân 11,3%/năm. Đạt được kết quả này là do các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi được áp dụng rộng rãi như: nhân giống, lai tạo, thức ăn tổng hợp, kỹ thuật chăn nuôi mới và chăn nuôi theo hình thức trang trại tập trung. Đến nay, hầu hết đàn lợn được cải tạo giống, tỷ lệ bò lai đạt 78% tổng đàn; nhiều mô hình chăn nuôi trang trại theo phương thức công nghiệp có khối lượng sản phẩm lớn xuất hiện khắp các huyện, thị xã.

Tổng đàn trâu giảm dần từ 17.065 con năm 2000 còn 11.500 con năm 2004 giảm bình quân 8,2%/năm do nhu cầu sức kéo giảm, hiệu quả kinh tế thấp. Đàn bò tăng khá từ 42.644 con năm 2000 lên 54.600 con năm 2004 tăng bình quân 5,9%/năm, đáng chú ý là số bò sữa tăng mạnh (đạt 800 con). Đàn lợn tăng từ 415.760 con (năm 2000) lên 451.347 con (năm 2004).

Tuy mức tăng đàn gia súc không cao nhưng do áp dụng phương thức chăn nuôi công nghiệp rút ngắn chu kỳ nên sản lượng thịt lợn xuất chuồng vẫn tăng mạnh từ 33,18 nghìn tấn (2000) lên 56,83 nghìn tấn (năm 2004), tăng bình quân hơn 16%/năm. Đàn gia cầm tăng từ 3,03 triệu con năm 2000 lên 3,387 triệu con năm 2004. Đại dịch cúm gia cầm đã làm tốc độ phát triển chăn nuôi gia cầm chững lại, song vẫn giữ được đàn giống gốc để phát triển khi dập tắt dịch bệnh.

c. Thuỷ sản

Năm năm qua, thuỷ sản được chú ý đầu tư phát triển, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều huyện đã triển khai thực hiện chương trình chuyển đổi đồng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản. Đến nay diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt gần 4.360ha, năm 2004 sản lượng ước đạt 14.225 tấn, giá trị 113,257 tỷ đồng (giá 2004) so với năm 2000 tăng 94,8%.

d. Lâm nghiệp

Thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, Bắc Ninh có chương trình ttrồng rừng cảnh quan môi trường văn hoá. Giai đoạn 2001 - 2005 toàn tỉnh trồng được 417,6ha rừng tập trung bằng 83,5% mục tiêu đại hội XVI, chăm sóc 1.130,9ha rừng đạt 115,4%, trồng 7,011 triệu cây phân tán bằng 87,6% so với kế hoạch.

2.3. Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Trong 5 năm qua, ngành công nghiệp luôn giữ mức tăng trưởng cao, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 20,3%/năm. Trong đó, khu vực quốc doanh Trung ương tăng 30,4%, quốc doanh địa phương tăng 49%, ngoài quốc doanh tăng 31,7% chủ yếu ở các doanh nghiệp may mặc, thuốc lá, vật liệu xây dựng. Các sản phẩm chủ yếu của công nghiệp đạt tốc độ tăng khá là thức ăn gia súc (204%), quần áo may sẵn (148,2%), giấy các loại (132,2%), thép cán (122,8%), đồ gỗ các loại (109,9%)/năm. Huyện Từ Sơn có tốc độ tăng cao nhất về phát triển sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, luôn chiếm trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh của tỉnh.

Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp đã góp phần tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thêm của cải vật chất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và tăng thu ngân sách địa phương.

2.4. Đầu tư xây dựng cơ bản

- Về đầu tư trong nước: Đến nay đã cấp đang ký kinh doanh cho 1.074 doanh nghiệp (636 công ty TNHH, 364 DNTN và 79 công ty cổ phần) tổng số vốn đăng ký 2.777 tỷ đồng. Cấp ưu đãi đầu tư cho 55 dự án.

- Về đầu tư trực tiếp nước ngoài: đã có 24 dự án (FDI) vào đầu tư, trong đó: khu công nghiệp 15 dự án, ngoài khu công nghiệp 9 dự án, với tổng vốn đăng ký 57,352 triệu USD, đến 2005 có 27 dự án thực hiện, với tổng số vốn 117,352 triệu USD.

- Về thu hút các dự án ODA và NGO: tỉnh đã tích cực vận động thu hút các dự án ODA như: dự án TTB bệnh viện đa khoa 3 triệu EURO, dự án thoát nước thải thị xã Bắc Ninh 16 triệu EURO, dự án cấp nước Thị trấn Lim 14,2 tỷ đồng, 6 dự án của NGO đang hoạt động, với tổng số tiền tài trợ 189.967,57 USD và 137.000 EURO, ngoài ra còn tài trợ thiết bị y tế, máy tính, thuốc men, sách vở… Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn giai đoạn 2001 – 2004 tăng bình quân 20,75%/năm, năm 2004 đạt 2.516 tỷ đồng, bằng 38,4% GDP. Đáng chú ý là tỷ trọng của nguồn vốn tư ngân sách Nhà nước trong tổng vốn đầu tư phát triển giảm dần từ 46,4% năm 2001 còn 20,6% năm 2004. Nhờ nguồn vốn đầu tư toàn xã hội tăng, đã tạo ra cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và năng lực sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển.

- Công tác quy hoạch, đầu tư phát triển các khu công nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh. Đến nay, đã cấp phép cho 114 dự án, với vốn đăng ký 4.896 tỷ đồng và 114,3 triệu USD, thuê 333,9ha đất, trong đó: Khu công nghiệp Tiên Sơn: 42 dự án, vốn 2019 tỷ đồng và 22 triệu USD, thuê 74,6ha; Khu công nghiệp Quế Võ: 37 dự án, với 1.090 tỷ đồng và 22,3 triệu USD, thuê 125,7ha; Khu công nghiệp Đại Đồng - Hoàn Sơn 22 dự án, 1.156 tỷ đồng, thuê 98,8ha; Khu công nghiệp Tân Hồng - Hoàn Sơn 13 dự án, 631 tỷ đồng, thuê 39,4ha… Ngoài ra, đã quy hoạch KCN Dược 100ha; Khu CN Nam Sơn - Hạp Lĩnh 300ha; KCN Yên Phong 200ha. Đến nay đã có 31 doanh nghiệp đi vào hoạt động, tạo việc làm cho hơn 6.100 lao động, chủ yếu là lao động địa phương.

Công tác đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề được đẩy mạnh. Cuối năm 2004 đã có 7 cụm công nghiệp Châu Khê, Đồng Quang, Đình Bảng, Mả Ông, Đại Phúc, Phong Khê, Võ Cường cơ bản hoàn thành đầu tư cơ sở hạ tầng và cho thuê đất hết 100% diện tích. Tám cụm: Khắc Niệm, Phú Lâm, Hạp Lĩnh, Phố Mới, Lâm Bình, Thanh Khương, Táo Đôi, Xuân Lâm đang đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất, tạo tiền đề cho sự phát triển sản xuất công nghiệp những năm tiếp theo.

- Phát triển đô thị: Ngay sau khi được tái lập, tỉnh đã dành phần lớn vốn cho việc đầu tư phát triển thị xã tỉnh lỵ Bắc Ninh. Các trục đường chính, các phố mới được xây dựng cùng các khu dân cư mới được mở rộng, hệ thống chiếu sáng, vườn hoa, cây xanh được hoàn chỉnh. Các công trình phúc lợi như bệnh viện Đa khoa 400 giường, các trường CĐSP, trường PTTH chuyên, trường THVHNT, câu lạc bộ người cao tuổi… được xây dựng xong. Cơ sở vật chất, hạ tầng đô thị ở các thị tứ, thị trấn huyện lỵ được ưu tiên đầu tư tập trung tạo nên bộ mặt đô thị loại III và chuyển huyện Từ Sơn thành thị xã.

2.5. Thương mại dịch vụ

Các ngành thương mại, dịch vụ có bước phát triển theo hướng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hoá năm 2005 ước đạt 3.700 tỷ đồng tăng gấp 2,4 lần so với năm 2000, tăng bình quân 19,9%/năm. Hoạt động quản lý Nhà nước về thương mại được tăng cường, quản lý thị trường kiểm tra chống buôn lậu, gian lận thương mại, tư vấn hướng dẫn doanh nghiệp phát triển thương hiệu… được quan tâm chỉ đạo.

- Xuất nhập khẩu: Số Doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu trên địa bàn tăng từ 29 doanh nghiệp năm 2001 lên 91 doanh nghiệp năm 2004, trong đó 25 doanh nghiệp xuất khẩu, 42 doanh nghiệp nhập khẩu và 24 doanh nghiệp hoạt động cả xuất và nhập khẩu. So với năm 2000 kim ngạch xuất khẩu năm 2001 giảm, nhưng từ năm 2002 đến năm 2004 tăng 15%/năm (bằng bình quân chung cả nước); năm 2004 đạt 65 triệu USD, trong đó địa phương 17,24 triệu USD. Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu đang thay đổi theo hướng tăng hàng hoá công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, giảm hàng nguyên liệu, nông sản. Hoạt động nhập khẩu tăng trưởng bình quân 14,1%/năm, bằng bình quân cả nước, năm 2004 đạt 85 triệu USD trong đó địa phương 42,54 triệu USD. Trong cơ cấu hàng nhập đang tăng tỷ trọng hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất, máy móc thiết bị, giảm nhóm hàng tiêu dùng.

- Hoạt động du lịch đã có nhiều cố gắng, phấn đấu năm sau cao hơn năm trước cả về lượng khách và doanh thu. Tổng số lượt khách năm 2004 đạt 54 nghìn lượt, tăng 20%, doanh thu 40,5 tỷ đồng tăng 22% so năm 2003. Năm 2005 phấn đấu đạt doanh thu 45 tỷ đồng, tăng 11% so năm 2004.

- Về vận tải: Công tác vận tải hàng hoá và hành khách phát triển mạnh, đáp ứng nhu cầu của sự tăng trưởng kinh tế và đời sống nhân dân; 5 năm qua khối lượng hàng hoá vận chuyển tăng bình quân 12,35%/năm, luân chuyển tăng 21,2%/năm, khối lượng hành khách tăng bình quân 7,25%/năm, luân chuyển tăng 9,25%/năm.

- Bưu chính viễn thông: tăng trưởng khá cao, doanh thu năm 2004 ước đạt 175 tỷ đồng, bình quân đạt 14,1 máy điện thoại cố định/100 dân. Đã phủ sóng điện thoại di động trên toàn bộ địa bàn tỉnh. Luôn đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội dân cư.

2.6. Giao thông

* Đường bộ:

Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống đường bộ thuận tiện cho việc vận chuyển, giao lưu kinh tế trong ngoài tỉnh. Mạng lưới giao thông đường bộ toàn tỉnh hiện có 3.765km, mật độ đường 4,51km/km2 thuộc loại cao so với bình quân cả nước, trong đó:

- Quốc lộ có 4 tuyến gồm QL 1A cũ dài 20km, quốc lộ 1 mới dài 19km, quốc lộ 18 dài 45,2km và quốc lộ 38 dài 23km.

- Tỉnh lộ gồm 12 tuyến với tổng chiều dài 254,7km

- Đường huyện + đô thị có chiều dài 273km

- Đường trục xã có chiều dài 755km

- Đường thôn xóm có chiều dài 2.392km

Nhìn tổng thể, hệ thống giao thông của tỉnh Bắc Ninh có một số đặc điểm cơ bản sau:

- Về mạng lưới: được hình thành từ nhiều năm trước đây nhưng cơ bản là khá hợp lý về quy hoạch mạng lưới chung, đảm bảo cho xe ô tô đi từ tỉnh đến các xã, các thôn trong toàn tỉnh và liên hoàn với mạng lưới giao thông quốc gia. Liên hệ với đường sắt và đường sông cũng có các tuyến đường bộ được nối với các cảng, ga và các bến bãi ven sông.

- Về tình trạng kỹ thuật đường bộ: Trừ các tuyến quốc lộ, còn lại các tuyến đường địa phương nhìn chung còn xấu, nền đường, mặt đường hẹp. Tỉnh lộ chủ yếu mới đạt tiêu chuẩn đường cấp 5 đồng bằng (nền rộng 6,5m, mặt rộng 3,5m), còn các tuyến đường xã, đường trong thôn xóm chỉ đạt cấp B, cấp A nông thôn (nền rộng 4 – 5m, mặt rộng 3m). Hiện tại chỉ có các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và một số tuyến đường huyện được trải nhựa, còn lại đa số vẫn là đường đất hoặc cấp phối các loại, tuy nhiên hầu hết các tuyến đường nội thôn, xóm hầu như đã được gạch hoá hoặc bê tông hoá. Các tuyến đường nội khu công nghiệp đến nay cơ bản được xây dựng đảm bảo quy hoạch và tải trọng cao.

* Đường sông:

- Bắc Ninh có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu dài 70km, sông Đuống 30km và sông Thái Bình 10km. Cả 3 sông này đều có khả năng cho các phương tiện thuỷ có tải trọng 200 - 250 tấn đi qua, riêng sông Cầu còn 10km thượng nguồn vào mùa khô chỉ có khả năng cho thuyền 50 tấn đi qua.

-Trên mạng lưới đường sông của Bắc Ninh hiện tại có 3 cảng lớn là:

+ Cảng Đáp Cầu (do cục đường sông quản lý) có bãi chứa 2ha, trước đây lượng hàng lưu thông qua là 200.000 tấn/năm, nay chỉ còn 100.000 tấn/năm chủ yếu là vật liệu xây dựng.

+ Cảng chuyên dùng nhà máy kính Đáp Cầu có công suất trên 30.000 tấn/năm.

+ Cảng chuyên dùng nhà máy kính nổi Quế Võ tại Đáp Cầu có công suất 35.000 tấn/năm.

Ngoài 3 cảng này còn có nhiều bãi xếp dỡ vật liệu khai thác cát chưa được đầu tư xây dựng như: Hồ, Đông Xuyên, Kênh Vàng... hàng năm xếp dỡ một lượng hàng lớn chủ yếu là vật liệu xây dựng.

* Đường sắt

Bắc Ninh có tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn chạy qua dài gần 20km với 4 ga. Hiện tại chất lượng đường và ga đều đã xuống cấp, khả năng sử dụng khai thác hạn chế, các ga chủ yếu tiếp nhận một số hàng vật liệu xây dựng, phân bón và hàng tiêu dùng, lượng hành khách qua lại ngày càng có xu hướng giảm.

2.7. Thuỷ lợi

Bắc Ninh có 2 hệ thống thuỷ nông chính là Bắc Đuống và Nam Đuống thực hiện nhiệm vụ tưới tiêu nước phục vụ dân sinh xã hội và sản xuất nông nghiệp cho 8 huyện thị xã của tỉnh và một phần của các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương.

Toàn tỉnh hiện có 391 trạm bơm các loại với tổng số 1.157 máy bơm có công suất tưới đạt 71,6m3/s và công suất tiêu 259m3/s. Các công trình được xây dựng cách đây 20 – 30 năm nên máy móc đã cũ, lạc hậu, nhiều trạm bơm xuống cấp nghiêm trọng như Trịnh Xá, Đặng Xá, Vạn An 1, Vọng Nguyệt, Xuân Viên, Kim Đôi, Hiền Lương (Bắc Đuống), Trạm bơm Như Quỳnh, Song Giang, Nghiã, Đạo, Ngọc Quang, Đại Đồng Thành, Kênh Vàng (Nam Đuống).

Nhìn chung, hệ thống thuỷ nông đảm bảo tưới cho 103,5 nghìn ha gieo trồng (khoảng 84% diện tích gieo trồng của tỉnh), tưới chủ động gần 60% diện tích, chủ động tiêu gần 70% diện tích. Có khoảng 7.095ha thường xuyên bị hạn. Thời gian qua tỉnh đã đầu tư khoảng 405 tỷ đồng cho các trạm bơm Tân Chi, Sông Khoai và 21 trạm bơm cục bộ, triển khai cứng hoá đê Hữu Đuống, Thái Bình dài 13,3km, cứng hoá kênh cấp I, II và kênh mương nội đồng gồm 325 tuyến dài 463km với vốn đầu tư khoảng 313 tỷ đồng.

2.8. Giáo dục và đào tạo

Toàn tỉnh hiện có 1 trường đại học; 7 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; 29 trường phổ thông trung học; 130 trường trung học cơ sở; 147 trường tiểu học; 2.420 nhà trẻ và 1.340 lớp mẫu giáo. Các trường dân lập và trung tâm giáo dục