1. Điều kiện tự nhiên?xml:namespace> 1.1. Vị trí địa lý và ranh giới hành chính Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc bộ, nằm gọn trong châu thổ sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội. Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và một phần Hà Nội Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương Phía Tây giáp thủ đô Hà Nội Với vị trí như trên, Bắc Ninh có nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh: - Có các tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua như QL1A, QL18, đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và các tuyến đường thuỷ như: sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình nên rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hoá và hành khách giao lưu với các tỉnh trong cả nước. - Gần thành phố Hà Nội là một thị trường rộng lớn, đồng thời cũng là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và tiếp thị thuận lợi đối với mọi miền đất nước. Hà Nội sẽ là thị trường tiêu thụ trực tiếp các mặt hàng của Bắc Ninh như Nông - Lâm - Thuỷ sản, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ... Bắc Ninh cũng là địa bàn mở rộng của Hà Nội qua xây dựng các thành phố vệ tinh, là mạng lưới gia công của các xí nghiệp công nghiệp của thủ đô trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. - Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh sẽ có tác động trực tiếp đến hình thành cơ cấu và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Bắc Ninh về mọi mặt, trong đó đặc biệt là công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ du lịch. - Là cửa ngõ phía Đông Bắc của thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh là cầu nối giữa Hà Nội với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và có vị trí quan trọng đối với an ninh quốc phòng. Vị trí địa lý thuận lợi là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong các tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nói chung và phát triển nông nghiệp nông thôn nói riêng. 1.2. Địa hình Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình. Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3 - 7m, địa hình đồi núi sót có độ cao phổ biến 40 - 50m. Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở 2 huyện Quế Võ và Tiên Du. Ngoài ra, còn một số khu vực thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ, Yên Phong. 1.3. Đặc điểm khí hậu Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh. Nhiệt độ trung bình năm 23,3oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,9oC (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8oC (tháng 1). Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,1oC. Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1.400 - 1.600mm nhưng phân bố không đều trong năm. Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm. Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.530 - 1.776 giờ, trong đó tháng có nhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng là tháng 1. Hàng năm có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam. Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm, gây mưa rào. Nhìn chung Bắc Ninh có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú. Mùa Đông với khí hậu khô, lạnh làm cho vụ đông trở thành vụ chính có thể trồng được nhiều loại cây rau màu ngắn ngày cho giá trị cao và xuất khẩu. Yếu tố hạn chế lớn nhất đối với sử dụng đất là mưa lớn tập trung theo mùa thường làm ngập úng các khu vực thấp trũng gây khó khăn cho việc thâm canh tăng vụ mở rộng diện tích. 1.4. Thổ nhưỡng Theo bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/25.000 toàn tỉnh Bắc Ninh do Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp xây dựng năm 2000 thì trên địa bàn tỉnh có các loại đất chính sau: - Bãi cát ven sông, diện tích 110,9ha. - Đất phù sa được bồi của hệ thống sông Hồng, diện tích 2.213,78ha. - Đất phù sa được bồi của hệ thống sông Thái Bình, diện tích 630,4ha. - Đất phù sa không được bồi, không có tầng gley và loang lổ của hệ thống sông Hồng, diện tích 5.688,02ha. - Đất phù sa không được bồi của HT Sông Thái Bình, diện tích 1.523,3ha. - Đất phù sa gley của hệ thống sông Hồng, diện tích 11.148,95ha. - Đất phù sa gley của hệ thống sông Thái Bình, diện tích 10.916,74ha. - Đất phù sa có tầng loang lổ của HT S.Hồng, diện tích 4.047,9ha. - Đất phù sa có tầng loang lổ của hệ thống sông Thái Bình, diện tích 5.146,93ha. - Đất phù úng nước, diện tích 3.285,23ha. - Đất xám bạc màu trên phù sa cổ, diện tích 4.505,8ha. - Đất xám bạc màu gley, diện tích 952,69ha. - Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ, diện tích 126ha. - Đất vàng nhạt trên đá cát và dăm cuội kết, diện tích 764,18ha. - Đất xói mòn trơ sỏi đá, diện tích 224,25ha. 2. Hiện trạng phát triển kinh tế xã hội 2.1. Khái quát thực trạng phát triển kinh tế xã hội Bảng 1. Một số chỉ tiêu về phát triển KTXH tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1995 – 2005 Chỉ tiêu | Đơn vị tính | 1995 | 2000 | 2003 | 2004 | 2005 | 1. Tổng sản phẩm trong tỉnh GDP |
| 1429.7 | 2288.3 | 3671.9 | 4181.2 | 4766.6 | (theo giá so sánh 1994) |
|
|
|
|
|
| Nông - Lâm nghiệp | Tỷ đồng | 678.5 | 737.4 | 1096.5 | 1149.2 | 1209 | Công nghiệp - XDCB | Tỷ đồng | 343.3 | 880.2 | 1554.1 | 1862.1 | 2214.6 | Dịch vụ | Tỷ đồng | 407.9 | 670.7 | 1021.3 | 1169.9 | 1343 | 2. Cơ cấu tổng sản phẩm |
|
|
|
|
|
| Nông - Lâm nghiệp | % | 47.5 | 37.7 | 29.0 | 26.5 | 25.3 | Công nghiệp - XDCB | % | 24.0 | 35.3 | 43.9 | 46.2 | 46.5 | Dịch vụ | % | 28.5 | 27.0 | 27.1 | 27.3 | 28.2 | 3. Bình quân lương thực đầu người | kg | 320.7 | 476.4 | 470 | 461 | 461 | 4. GDP bình quân đầu người | USD |
| 248 | 365 | 427 | 479 | (Giá cố định năm 1994) |
|
|
|
|
|
|
(Nguồn : Cục Thống kê Bắc Ninh) Thời kỳ 2001 – 2005, tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh phát triển khá, quy mô nền kinh tế lớn mạnh không ngừng, năm 2005 lớn gấp 1,9 lần so với năm 2000 và gấp 2,8 lần so với năm 1997 (năm đầu tái lập tỉnh). Tốc độ tăng trưởng luôn ở mức cao và ổn định, bình quân 5 nămđạt 13,9%/năm (gấp 1,8 lần mức bình quân của nhà nước) . Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng Công nghiệp – XDCB trong tổng GDP đã tăng mạnh từ 35,6% năm 2000 lên 47% vào năm 2005, dịch vụ từ 26,4% lên 28%, Nông nghiệp giảm từ 38% xuống còn 25%. Sản xuất công nghiệp luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao, từ n
ăm 2001 tỷ trọng công nghiệp - XDCB đã vượt lên trên tỷ trọng nông nghiệp vàngày càng tăng cao trong cơ cấu GDP, nhất là kinh tế khu vực ngoài quốc doanh. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất, hàng hoá, cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch theo hướng hiệu quả cao, các loại giống cây con mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng rộng rãi. Khu vực dịch vụ có nhiều chuyển biến, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng mạnh… Thu ngân sách trên địa bàn đạt kết quả cao, từ năm 2000đến năn 2005 bình quân tăng 34,7% năm. Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất nông nghiệp chuyển mục đích sử dụng tuy có lúc, có nơi gặp nhiều khó khăn vướng mắc nhưng đều được giải quyết, tạo mặt bằn
g cho các dự án đầu tư tạo nguồn quỹ vốn cho đầu tư phát triển. Thu hút vốn đầu tư, nhất là nguồn vốn từ các thành phần kinh tế trong nước đầu tư vào sản xuất đạt kết quả khá. Chất lượng hoạt động các lĩnh vực văn hoá, xã hội tiếp tục được nâng lên. Đã xoá hộ đói, giảm hộ nghèo xuống 4%, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện một bước. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được ổn định, công tác quốc phòng được củng cố. - Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 13,9%/năm (mục tiêu đại hội 13,5%). - Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005: 6.800 tỷ đồng (mục tiêu đại hội 5.300 tỷ đồng) vượt 2,8%, trong đó công nghiệp địa phương 4.100 tỷ đồng chiếm 60,2% (mục tiêu đại hội là 40%) giá trị sản xuất nông nghiệp 2.215,8 tỷ đồng (mục tiêu đại hội là 2.050 tỷ đồng) vượt 8%, giá trị sản xuất trồng trọt/ha canh tác năm 2005 ước đạt 34,5 triệu đồng (mục tiêu đại hội là 33 triệu đồng). - Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là 25 - 47 - 28% (mục tiêu đại hội là 26,6 - 45,1 - 28,3%). - Thu ngân sách năm 2005 là 1.011 tỷ đồng, gấp 2,4 lần mục tiêu đại hội. - Hoàn thành phổ cập giáo dục THCS năm 2002, sớm hơn mục tiêu đại hội một năm. - Một năm bình quân giải quyết việc làm cho 14.000 lao động (mục tiêu đại hội 10 – 12.000 lao động), tăng 27%. - Tỷ lệ lao động được đào tạo 28% (bằng mục tiêu đại hội) - Tỷ lệ phát triển dân số năm 2005 là 1,05% (bằng mục tiêu đại hội) - Xoá hộ đói, giảm hộ nghèo còn 4% (mục tiêu đại hội là dưới 10%). - Đạt 14,1 máy điện thoại/100 dân (năm 2004), cao hơn bình quân cả nước 13,5 máy (mục tiêu đại hội 4 – 5 máy/100 dân). - Tỷ lệ phòng học được xây kiên cố năm 2004 đạt 82,7% (mục tiêu đại hộinăm 2005 là 85%). - GDP bình quân đầu người năm 2000 là 248 USD, năm 2001 là 295 USD, năm 2005 là 479 USD (giá thực tếlà 3,539 triệu đồng -4,142 triệu đồng - 7,554 triệu đồng). - Năm năm qua, sản xuất nông - lâm nghiệp - thuỷ sản gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng khá, tăng bình quân 5,22%/năm. Giá trị sản xuất, năng suất, chất lượng được nâng lên, đến năm 2005 đạt 1.149,2 tỷ đồng (giá 1994). - Tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 38% (năm 2000) xuống còn 25% (năm 2005). Cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch tích cực: tỷ trọng ngành trồng trọt giảm dần từ 68,4% năm 2000 xuống còn 57% năm 2004, ngành chăn nuôi - thuỷ sản từ 28,4% tăng lên 38%. a. Trồng trọt Đã chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung và từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao giá trị làm ra/đơn vị canh tác (34,5 triệu đồng/ha). Diện tích gieo trồng cây hàng năm ổn định ở mức 120.000 ha/năm, trong đó khoảng 86,5% cây lương thực; 9,9% cây thực phẩm; 3,6% cây công nghiệp. Bước đầu đã hình thành một số vùng sản xuất nông sản tập trung như: lúa tám xoan ở Quế Võ (gần 200ha), vùng nếp Từ Sơn 150ha, vùng hoa, rau ven thị xã Bắc Ninh, Việt Hùng, Đào Viên (Quế Võ), vùng cá có quy mô trên 100ha Bình Dương, Nhân Thắng (Gia Bình), An Thịnh, Phú Hoà, Trừng Xá (Lương Tài), vùng bò sữa ở Cảnh Hưng, Tri Phương (Tiên Du). Năng suất các các loại cây trồng đã được nâng lên do áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới về giống, về kỹ thuật thâm canh, năng suất lúa từ 52,6 tạ/ha năm 2000 lên 55,5 tạ/ha năm 2004, tăng 5,5%, năng suất ngô từ 26,3 tạ/ha lên 31,3 tạ/ha… Do năng suất các loại cây trồng tăng nên mặc dù diện tích gieo trồng giảm từ 92.183ha năm 2000 còn 83.248ha năm 2004 nhưng sản lượng lương thực có hạt vẫn tăng từ 453,1 ngàn tấn lên 456,2 ngàn tấn. Chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng đã diễn ra khá, cơ cấu mùa vụ được chuyển dịch theo hướng tăng diện tích lúa xuân muộn và mùa trung, giảm diện tích xuân sớm, xuân trung. b. Chăn nuôi Những năm qua, ngành chăn nuôi phát triển khá, giá trị sản xuất tăng bình quân 11,3%/năm. Đạt được kết quả này là do các tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi được áp dụng rộng rãi như: nhân giống, lai tạo, thức ăn tổng hợp, kỹ thuật chăn nuôi mới và chăn nuôi theo hình thức trang trại tập trung. Đến nay, hầu hết đàn lợn được cải tạo giống, tỷ lệ bò lai đạt 78% tổng đàn; nhiều mô hình chăn nuôi trang trại theo phương thức công nghiệp có khối lượng sản phẩm lớn xuất hiện khắp các huyện, thị xã. Tổng đàn trâu giảm dần từ 17.065 con năm 2000 còn 11.500 con năm 2004 giảm bình quân 8,2%/năm do nhu cầu sức kéo giảm, hiệu quả kinh tế thấp. Đàn bò tăng khá từ 42.644 con năm 2000 lên 54.600 con năm 2004 tăng bình quân 5,9%/năm, đáng chú ý là số bò sữa tăng mạnh (đạt 800 con). Đàn lợn tăng từ 415.760 con (năm 2000) lên 451.347 con (năm 2004). Tuy mức tăng đàn gia súc không cao nhưng do áp dụng phương thức chăn nuôi công nghiệp rút ngắn chu kỳ nên sản lượng thịt lợn xuất chuồng vẫn tăng mạnh từ 33,18 nghìn tấn (2000) lên 56,83 nghìn tấn (năm 2004), tăng bình quân hơn 16%/năm. Đàn gia cầm tăng từ 3,03 triệu con năm 2000 lên 3,387 triệu con năm 2004. Đại dịch cúm gia cầm đã làm tốc độ phát triển chăn nuôi gia cầm chững lại, song vẫn giữ được đàn giống gốc để phát triển khi dập tắt dịch bệnh. c. Thuỷ sản Năm năm qua, thuỷ sản được chú ý đầu tư phát triển, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều huyện đã triển khai thực hiện chương trình chuyển đổi đồng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản. Đến nay diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt gần 4.360ha, năm 2004 sản lượng ước đạt 14.225 tấn, giá trị 113,257 tỷ đồng (giá 2004) so với năm 2000 tăng 94,8%. d. Lâm nghiệp Thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, Bắc Ninh có chương trình ttrồng rừng cảnh quan môi trường văn hoá. Giai đoạn 2001 - 2005 toàn tỉnh trồng được 417,6ha rừng tập trung bằng 83,5% mục tiêu đại hội XVI, chăm sóc 1.130,9ha rừng đạt 115,4%, trồng 7,011 triệu cây phân tán bằng 87,6% so với kế hoạch. Trong 5 năm qua, ngành công nghiệp luôn giữ mức tăng trưởng cao, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 20,3%/năm. Trong đó, khu vực quốc doanh Trung ương tăng 30,4%, quốc doanh địa phương tăng 49%, ngoài quốc doanh tăng 31,7% chủ yếu ở các doanh nghiệp may mặc, thuốc lá, vật liệu xây dựng. Các sản phẩm chủ yếu của công nghiệp đạt tốc độ tăng khá là thức ăn gia súc (204%), quần áo may sẵn (148,2%), giấy các loại (132,2%), thép cán (122,8%), đồ gỗ các loại (109,9%)/năm. Huyện Từ Sơn có tốc độ tăng cao nhất về phát triển sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, luôn chiếm trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh của tỉnh. Sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp đã góp phần tích cực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thêm của cải vật chất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và tăng thu ngân sách địa phương. - Về đầu tư trong nước: Đến nay đã cấp đang ký kinh doanh cho 1.074 doanh nghiệp (636 công ty TNHH, 364 DNTN và 79 công ty cổ phần) tổng số vốn đăng ký 2.777 tỷ đồng. Cấp ưu đãi đầu tư cho 55 dự án. - Về đầu tư trực tiếp nước ngoài: đã có 24 dự án (FDI) vào đầu tư, trong đó: khu công nghiệp 15 dự án, ngoài khu công nghiệp 9 dự án, với tổng vốn đăng ký 57,352 triệu USD, đến 2005 có 27 dự án thực hiện, với tổng số vốn 117,352 triệu USD. - Về thu hút các dự án ODA và NGO: tỉnh đã tích cực vận động thu hút các dự án ODA như: dự án TTB bệnh viện đa khoa 3 triệu EURO, dự án thoát nước thải thị xã Bắc Ninh 16 triệu EURO, dự án cấp nước Thị trấn Lim 14,2 tỷ đồng, 6 dự án của NGO đang hoạt động, với tổng số tiền tài trợ 189.967,57 USD và 137.000 EURO, ngoài ra còn tài trợ thiết bị y tế, máy tính, thuốc men, sách vở… Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn giai đoạn 2001 – 2004 tăng bình quân 20,75%/năm, năm 2004 đạt 2.516 tỷ đồng, bằng 38,4% GDP. Đáng chú ý là tỷ trọng của nguồn vốn tư ngân sách Nhà nước trong tổng vốn đầu tư phát triển giảm dần từ 46,4% năm 2001 còn 20,6% năm 2004. Nhờ nguồn vốn đầu tư toàn xã hội tăng, đã tạo ra cơ sở
hạ tầng kinh tế, xã hội và năng lực sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển. - Công tác quy hoạch, đầu tư phát triển các khu công nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh. Đến nay, đã cấp phép cho 114 dự án, với vốn đăng ký 4.896 tỷ đồng và 114,3 triệu USD, thuê 333,9ha đất, trong đó: Khu công nghiệp Tiên Sơn: 42 dự án, vốn 2019 tỷ đồng và 22 triệu USD, thuê 74,6ha; Khu công nghiệp Quế Võ: 37 dự án, với 1.090 tỷ đồng và 22,3 triệu USD, thuê 125,7ha; Khu công nghiệp Đại Đồng - Hoàn Sơn 22 dự án, 1.156 tỷ đồng, thuê 98,8ha; Khu công nghiệp Tân Hồng - Hoàn Sơn 13 dự án, 631 tỷ đồng, thuê 39,4ha… Ngoài ra, đã quy hoạch KCN Dược 100ha; Khu CN Nam Sơn - Hạp Lĩnh 300ha; KCN Yên Phong 200ha. Đến nay đã có 31 doanh nghiệp đi vào hoạt động, tạo việc làm cho hơn 6.100 lao động, chủ yếu là lao động địa phương. Công tác đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề được đẩy mạnh. Cuối năm 2004 đã có 7 cụm công nghiệp Châu Khê, Đồng Quang, Đình Bảng, Mả Ông, Đại Phúc, Phong Khê, Võ Cường cơ bản hoàn thành đầu tư cơ sở hạ tầng và cho thuê đất hết 100% diện tích. Tám cụm: Khắc Niệm, Phú Lâm, Hạp Lĩnh, Phố Mới, Lâm Bình, Thanh Khương, Táo Đôi, Xuân Lâm đang đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất, tạo tiền đề cho sự phát triển sản xuất công nghiệp những năm tiếp theo. - Phát triển đô thị: Ngay sau khi được tái lập, tỉnh đã dành phần lớn vốn cho việc đầu tư phát triển thị xã tỉnh lỵ Bắc Ninh. Các trục đường chính, các phố mới được xây dựng cùng các khu dân cư mới được mở rộng, hệ thống chiếu sáng, vườn hoa, cây xanh được hoàn chỉnh. Các công trình phúc lợi như bệnh viện Đa khoa 400 giường, các trường CĐSP, trường PTTH chuyên, trường THVHNT, câu lạc bộ người cao tuổi… được xây dựng xong. Cơ sở vật chất, hạ tầng đô thị ở các thị tứ, thị trấn huyện lỵ được ưu tiên đầu tư tập trung tạo nên bộ mặt đô thị loại III và chuyển huyện Từ Sơn thành thị xã. Các ngành thương mại, dịch vụ có bước phát triển theo hướng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hoá năm 2005 ước đạt 3.700 tỷ đồng tăng gấp 2,4 lần so với năm 2000, tăng bình quân 19,9%/năm. Hoạt động quản lý Nhà nước về thương mại được tăng cường, quản lý thị trường kiểm tra chống buôn lậu, gian lận thương mại, tư vấn hướng dẫn doanh nghiệp phát triển thương hiệu… được quan tâm chỉ đạo. - Xuất nhập khẩu: Số Doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu trên địa bàn tăng từ 29 doanh nghiệp năm 2001 lên 91 doanh nghiệp năm 2004, trong đó 25 doanh nghiệp xuất khẩu, 42 doanh nghiệp nhập khẩu và 24 doanh nghiệp hoạt động cả xuất và nhập khẩu. So với năm 2000 kim ngạch xuất khẩu năm 2001 giảm, nhưng từ năm 2002 đến năm 2004 tăng 15%/năm (bằng bình quân chung cả nước); năm 2004 đạt 65 triệu USD, trong đó địa phương 17,24 triệu USD. Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu đang thay đổi theo hướng tăng hàng hoá công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, giảm hàng nguyên liệu, nông sản. Hoạt động nhập khẩu tăng trưởng bình quân 14,1%/năm, bằng bình quân cả nước, năm 2004 đạt 85 triệu USD trong đó địa phương 42,54 triệu USD.
Trong cơ cấu hàng nhập đang tăng tỷ trọng hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất, máy móc thiết bị, giảm nhóm hàng tiêu dùng. - Hoạt động du lịch đã có nhiều cố gắng, phấn đấu năm sau cao hơn năm trước cả về lượng khách và doanh thu. Tổng số lượt khách năm 2004 đạt 54 nghìn lượt, tăng 20%, doanh thu 40,5 tỷ đồng tăng 22% so năm 2003. Năm 2005 phấn đấu đạt doanh thu 45 tỷ đồng, tăng 11% so năm 2004. - Về vận tải: Công tác vận tải hàng hoá và hành khách phát triển mạnh, đáp ứng nhu cầu của sự tăng trưởng kinh tế và đời sống nhân dân; 5 năm qua khối lượng hàng hoá vận chuyển tăng bình quân 12,35%/năm, luân chuyển tăng 21,2%/năm, khối lượng hành khách tăng bình quân 7,25%/năm, luân chuyển tăng 9,25%/năm. - Bưu chính viễn thông: tăng trưởng khá cao, doanh thu năm 2004 ước đạt 175 tỷ đồng, bình quân đạt 14,1 máy điện thoại cố định/100 dân. Đã phủ sóng điện thoại di động trên toàn bộ địa bàn tỉnh. Luôn đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội dân cư. * Đường bộ: Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống đường bộ thuận tiện cho việc vận chuyển, giao lưu kinh tế trong ngoài tỉnh. Mạng lưới giao thông đường bộ toàn tỉnh hiện có 3.765km, mật độ đường 4,51km/km2 thuộc loại cao so với bình quân cả nước, trong đó: - Quốc lộ có 4 tuyến gồm QL 1A cũ dài 20km, quốc lộ 1 mới dài 19km, quốc lộ 18 dài 45,2km và quốc lộ 38 dài 23km. - Tỉnh lộ gồm 12 tuyến với tổng chiều dài 254,7km - Đường huyện + đô thị có chiều dài 273km - Đường trục xã có chiều dài 755km - Đường thôn xóm có chiều dài 2.392km Nhìn tổng thể, hệ thống giao thông của tỉnh Bắc Ninh có một số đặc điểm cơ bản sau: - Về mạng lưới: được hình thành từ nhiều năm trước đây nhưng cơ bản là khá hợp lý về quy hoạch mạng lưới chung, đảm bảo cho xe ô tô đi từ tỉnh đến các xã, các thôn trong toàn tỉnh và liên hoàn với mạng lưới giao thông quốc gia. Liên hệ với đường sắt và đường sông cũng có các tuyến đường bộ được nối với các cảng, ga và các bến bãi ven sông. - Về tình trạng kỹ thuật đường bộ: Trừ các tuyến quốc lộ, còn lại các tuyến đường địa phương nhìn chung còn xấu, nền đường, mặt đường hẹp. Tỉnh lộ chủ yếu mới đạt tiêu chuẩn đường cấp 5 đồng bằng (nền rộng 6,5m, mặt rộng 3,5m), còn các tuyến đường xã, đường trong thôn xóm chỉ đạt cấp B, cấp A nông thôn (nền rộng 4 – 5m, mặt rộng 3m). Hiện tại chỉ có các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và một số tuyến đường huyện được trải nhựa, còn lại đa số vẫn là đường đất hoặc cấp phối các loại, tuy nhiên hầu hết các tuyến đường nội thôn, xóm hầu như đã được gạch hoá
hoặc bê tông hoá. Các tuyến đường nội khu công nghiệp đến nay cơ bản được xây dựng đảm bảo quy hoạch và tải trọng cao. * Đường sông: - Bắc Ninh có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu dài 70km, sông Đuống 30km và sông Thái Bình 10km. Cả 3 sông này đều có khả năng cho các phương tiện thuỷ có tải trọng 200 - 250 tấn đi qua, riêng sông Cầu còn 10km thượng nguồn vào mùa khô chỉ có khả năng cho thuyền 50 tấn đi qua. -Trên mạng lưới đường sông của Bắc Ninh hiện tại có 3 cảng lớn là: + Cảng Đáp Cầu (do cục đường sông quản lý) có bãi chứa 2ha, trước đây lượng hàng lưu thông qua là 200.000 tấn/năm, nay chỉ còn 100.000 tấn/năm chủ yếu là vật liệu xây dựng. + Cảng chuyên dùng nhà máy kính Đáp Cầu có công suất trên 30.000 tấn/năm. + Cảng chuyên dùng nhà máy kính nổi Quế Võ tại Đáp Cầu có công suất 35.000 tấn/năm. Ngoài 3 cảng này còn có nhiều bãi xếp dỡ vật liệu khai thác cát chưa được đầu tư xây dựng như: Hồ, Đông Xuyên, Kênh Vàng... hàng năm xếp dỡ một lượng hàng lớn chủ yếu là vật liệu xây dựng. * Đường sắt Bắc Ninh có tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn chạy qua dài gần 20km với 4 ga. Hiện tại chất lượng đường và ga đều đã xuống cấp, khả năng sử dụng khai thác hạn chế, các ga chủ yếu tiếp nhận một số hàng vật liệu xây dựng, phân bón và hàng tiêu dùng, lượng hành khách qua lại ngày càng có xu hướng giảm. Bắc Ninh có 2 hệ thống thuỷ nông chính là Bắc Đuống và Nam Đuống thực hiện nhiệm vụ tưới tiêu nước phục vụ dân sinh xã hội và sản xuất nông nghiệp cho 8 huyện thị xã của tỉnh và một phần của các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương. Toàn tỉnh hiện có 391 trạm bơm các loại với tổng số 1.157 máy bơm có công suất tưới đạt 71,6m3/s và công suất tiêu 259m3/s. Các công trình được xây dựng cách đây 20 – 30 năm nên máy móc đã cũ, lạc hậu, nhiều trạm bơm xuống cấp nghiêm trọng như Trịnh Xá, Đặng Xá, Vạn An 1, Vọng Nguyệt, Xuân Viên, Kim Đôi, Hiền Lương (Bắc Đuống), Trạm bơm Như Quỳnh, Song Giang, Nghiã, Đạo, Ngọc Quang, Đại Đồng Thành, Kênh Vàng (Nam Đuống). Nhìn chung, hệ thống thuỷ nông đảm bảo tưới cho 103,5 nghìn ha gieo trồng (khoảng 84% diện tích gieo trồng của tỉnh), tưới chủ động gần 60% diện tích, chủ động tiêu gần 70% diện tích. Có khoảng 7.095ha thường xuyên bị hạn. Thời gian qua tỉnh đã đầu tư khoảng 405 tỷ đồng cho các trạm bơm Tân Chi, Sông Khoai và 21 trạm bơm cục bộ, triển khai cứng hoá đê Hữu Đuống, Thái Bình dài 13,3km, cứng hoá kênh cấp I, II và kênh mương nội đồng gồm 325 tuyến dài 463km với vốn đầu tư khoảng 313 tỷ đồng. Toàn tỉnh hiện có 1 trường đại học; 7 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; 29 trường phổ thông trung học; 130 trường trung học cơ sở; 147 trường tiểu học; 2.420 nhà trẻ và 1.340 lớp mẫu giáo. Các trường dân lập và trung tâm giáo dục thường xuyên cũng được quan tâm đầu tư phát triển như trường Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, trung tâm giáo dục huyện Từ Sơn, Tiên Du... Trong những năm qua cùng với sự đẩy mạnh phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục, đào tạo được giữ vững và có nhiều tiến bộ rõ rệt, đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở xong năm 2003, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành phổ cập trung học phổ thông. Ngành giáo dục mầm non ngày càng được quan tâm, đã thu hút 24,7% số cháu trong độ tuổi đến nhà trẻ, trên 50% số cháu đến lớp mẫu giáo. Số học sinh phổ thông đi học ngày càng tăng, đặc biệt là phổ thông trung học và trung học cơ sở. Ngoài ra, các trường Đại học và dạy nghề trên địa bàn tỉnh hàng năm còn đào tạo được 4.934 cán bộ có trình độ đại học và công nhân lành nghề, tỷ lệ
lao động đã qua đào tạo chiếm 23%. Đội ngũ giáo viên các cấp được bảo đảm về số lượng, từng bước nâng lên về chất lượng đáp ứng nhu cầu dạy và học trong giai đoạn hiện nay. Nhiều địa phương đã quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học khang trang sạch đẹp, hầu hết các trường phổ thông đều được xây dựng cao tầng, kiên cố. Tính đến ngày 31/12/2004, toàn tỉnh có có 13 bệnh viện, 10 phòng khám đa khoa khu vực và 125 trạm y tế với 1.920 giường bệnh. Mặc dù những năm qua còn gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất xuống cấp, điều kiện khám chữa bệnh cho nhân dân còn gặp nhiều hạn chế nhưng ngành y tế đã cố gắng khắc phục, đạt được những kết quả đáng khích lệ. Củng cố mạng lưới y tế cơ cở từ thôn đến các trạm y tế xã, bệnh viện huyện, tỉnh, nâng cao trình độ quản lý nghiệp vụ. Sắp xếp bố trí hợp lý hệ thống khám chữa bệnh tại các địa phương. Tích cực đẩy mạnh công tác vệ sinh phòng dịch, phòng chống suy di
nh dưỡng, duy trì tiêm chủng mở rộng đạt 99,7% cho các cháu dưới 1 tuổi miễn dịch cơ bản. Các hoạt động văn hoá thông tin và thể dục thể thao trong tỉnh đã có chuyển biến tích cực góp phần đáng kể vào việc nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Hàng năm tỉnh vẫn duy trì được các hoạt động văn hoá và sinh hoạt tín ngưỡng thông qua sinh hoạt văn hoá quan họ, các lễ hội truyền thống đậm đà sắc thái văn hiến kinh bắc như lễ hội chùa Dâu, hội Lim, hội Đền Đô... hoạt động thể thao cho mọi người ngày càng phát triển, các cuộc thi đấu gắn liền với các lễ hội tạo nên không khí sôi nổi thi đua tập luyện, giao lưu đoàn kết, đẩy mạnh phong trào. Số người tập luyện thể thao thường xuyên đạt 6% = 55.227 người so với tổ
ng dân số. Hoạt động thể thao quần chúng, đặc biệt là cầu lông phát triển mạnh mẽ ở các cơ quan đơn vị trên địa bàn, huyện tỉnh. Hoạt động thể thao thành tích cao đã có nhiều vận động viên đạt huy chương vàng đáng chú ý có 11 vận động viên vật được phong cấp kiện tướng quốc gia. Tuy nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động văn hoá thể thao còn nghèo nàn, sân bãi, dụng cụ không đáp ứng được phòng trào. Trong 8 huyện thì 6 huyện không có sân vận động trung tâm là Quế Võ, Yên Phong, Gia Bình, Lương Tài, Tiên Du và Từ Sơn. 2.11. Dân số và lao động Theo số liệu thống kê đến ngày 31/12/2004, dân số toàn tỉnh là 989.200người chiếm 1,35% dân số toàn quốc. So với năm 1995, dân số toàn tỉnh đã tăng 73.306 người, tốc độ tăng bình quân hàng năm 1,35%. Do sự gia tăng về dân số đã góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh như tăng cường nguồn lao động, xây dựng các khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp vừa và nhỏ làm cho nền kinh tế của Bắc Ninh phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhiều trung tâm thị trấn, thị tứ được thành lập trở thành các trung tâm phát triển mang lại lợi ích thiết thực về kinh tế, văn hoá và xã hội cho tỉnh
, quốc phòng an ninh ngày càng được củng cố. Song cũng do dân số gia tăng đã làm cho nhu cầu về đất ở, đất xây dựng, đất canh tác cây lương thực thực phẩm tăng theo tạo nên sức ép rất mạnh mẽ lên tài nguyên đất vốn đã hạn hẹp của tỉnh. Mật độ dân số toàn tỉnh 1.256 người/km2, cao hơn gấp 5 lần so với toàn quốc (mật độ dân số toàn quốc là 219 người/km2) nhưng lại phân bố không đồng đều. Dân số chủ yếu tập trung ở các thị xã, thị trấn, ven các trục giao thông chính (mật độ dân số ở thị xã Bắc Ninh là 2.937 người/km2), các vùng nông thôn mật độ dân số thưa hơn trong đó huyện Quế Võ có mật độ dân số thấp nhất 893 người/km2.
Tổng số lao động xã hội toàn tỉnh 552.567 người, chiếm 55,86% tổng dân số, trong đó lao động nông nghiệp chiếm tới 76,83% tổng lao động xã hội toàn tỉnh, lao động làm việc trong ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 14,24% và dịch vụ chiếm 9,83%. Chất lượng lao động chưa cao, tỷ lệ công nhân lành nghề, cán bộ kỹ thuật còn ít, mức sống dân cư còn thấp, số hộ nghèo còn chiếm tỷ lệ đáng kể là 4%. 2.12. Thực trạng và xu thế phát triển đô thị Cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế, hệ thống các đô thị tỉnh Bắc Ninh cũng đã dần được hình thành và phát triển. Hiện nay toàn tỉnh có 1 thị xã Bắc Ninh (thị xã loại IV) và 7 thị trấn là thị trấn Từ Sơn (huyện Từ Sơn), Phố Mới (huyện Quế Võ), Lim (huyện Tiên Du), Chờ (huyện Yên Phong), Hồ (huyện Thuận Thành), Gia Bình (huyện Gia Bình) và Thứa (huyện Lương Tài). Những năm qua tốc độ đô thị hoá diễn ra khá nhanh, đặc biệt là ở thị xã Bắc Ninh (dự kiến phát triển thành đô thị loại III) và Từ Sơn thành thị xã (đô thị loại IV). Ngoài ra, quá trình đô thị hoá đang diễn ra khá mạnh ở các khu vực đông dân cư, các khu công nghiệp t
ập trung, các khu vực ven đường QL 1A, QL 18, QL 38. Trong tương lai, việc phát triển mạng lưới thị trấn, thị tứ vẫn tập trung chính ở các khu vực này. Việc bố trí đất đai cho các điểm dân cư này cần phải được chú trọng xem xét hợp lý, tạo điều kiện phát triển cho các đô thị mà vẫn đảm bảo được đất đai cho sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên. 3.1. Công tác điều tra khảo sát, đo đạc bản đồ địa chính Đến nay toàn tỉnh đã xây dựng lưới khống chế toạ độ, độ cao phủ trùm diện tích tự nhiên toàn tỉnh bao gồm lưới địa chính cơ sở 100 điểm trên 82 đơn vị cấp xã, lưới địa chính cấp I: 125 điểm, cấp II: 1029 điểm phủ trùm trên 125 đơn vị cấp xã; xây dựng lưới độ cao hạng 4 cho 133km và độ cao kỹ thuật 417,7km ở 4 huyện, thị: Bắc Ninh, Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành. Đo vẽ và lập bản đồ địa chính xong cho 123 xã (trong đó có thị trấn Gia Bình và phường Suối Hoa), phường, thị trấn bằng 98,4% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh, diện tích 82.282,33h
a đất tự nhiên với 3.770 tờ bản đồ địa chính (tỷ lệ 1/500 là 512 tờ; tỷ lệ 1/1000 là 1.681 tờ; tỷ lệ 1/2000 là 1.509 tờ). Việc đo đạc bản đồ đại chính theo toạ độ và độ cao Nhà nước đến nay đã cơ bản hoàn thành. 3.2. Công tác đăng ký thống kê, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ)Trước khi tái lập tỉnh, việc cấp GCNQSDĐ trên địa bàn kết quả đạt được rất thấp so với yêu cầu: Mới cấp được ở 12/123 xã, phường, thị trấn = 9,8% số xã, phường, thị trấn. 16.783 hộ = 8,3% số hộ sử dụng đất ở với diện tích 385,5ha = 8,34% diện tích đất ở, 6.976 hộ = 4% số hộ được giao đất nông nghiệp. Sau khi tái lập tỉnh: Tỉnh Uỷ, HĐND tỉnh, UBND tỉnh có nhiều chủ trương chính sách trong quản lý sử dụng đất đai nên chỉ trong thời gian từ 1997 đến 2004 công tác cấp GCNQSDĐ đã đạt được hiệu quả cao. - Đối với nông nghiệp: Toàn tỉnh đã cấp được 193.599 hộ = 98,1% số hộ sử dụng đất nông nghiệp với diện tích 41.014ha = 96,% diện tích đất nông nghiệp đã giao ổn định cho hộ. - Đối với đất ở: Đã cấp được 204.855 hộ = 93,3% số hộ sử dụng đất ở với diện tích đã cấp giấy chứng nhận là 6.015ha. - Đối với đất lâm nghiệp đã cấp được 229 hộ với diện tích 57ha = 10% diện tích đất lâm nghiệp. - Đối với đất chuyên dùng đã cấp cho 286 tổ chức đóng trên địa bàn tỉnh với diện tích 399,05ha không kể 332 tổ chức thuê lại đất trong Khu công nghiệp đã được cấp GCNQSDĐ. Thông qua việc cấp GCNQSDĐ, Nhà nước các cấp đã nắm chắc được thực trạng quỹ đất, quản lý chặt chẽ quá trình chuyển dịch đất đai nhằm khai thác nguồn thu từ đất góp phần tăng thu cho Ngân sách Nhà nước nhất là thuế chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ … 3.3. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất a. Công tác quy hoạch + Đối với cấp tỉnh: Quy hoạch sủ dụng đất thời kỳ 2000 - 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 742/QĐ - TTg ngày 19/06/2001 và tiếp tục được điều chỉnh bổ sung quy hoạch vào năm 2003 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1208/QĐ-TTg ngày 06/11/2003. + Đối với cấp huyện: Toàn tỉnh có 8/8 huyện, thị xã đã lập xong quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010. Trong đó 4 huyện: Yên Phong, Quế Võ, Từ Sơn, Tiên Du đã lập điều chỉnh bổ sung quy hoạch. + Đối với cấp xã: Có 115/125 xã, phường, thị trấn lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2005 và 2010 trong đó: -52 xã lập đến năm 2005. -63 xã lập đến 2010. -Năm 2005 lập QHSDĐ chi tiết cho 50 xã bằng nguồn kinh phí của tỉnh. b. Công tác lập kế hoạch sử dụng đất - Toàn tỉnh đã lập xong kế hoạch sủ dụng đất đến 2005 và điều chỉnh bổ sung kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2001 - 2005) được Chính Phủ phê duyệt tại các quyết định 476/QĐ-TTg ngày 19/06/2002 và quyết định số 1214/QĐ-TTg ngày 07/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ. - Với cấp huyện: 8/8 huyện, thị xã đều lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm trình và được chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt. - Với cấp xã: 125/125 xã, phường, thị trấn đều lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm trình chủ tịch UBND các huyện, thị xã phê duyệt. Nhìn chung từ khi tái lập tỉnh Bắc Ninh, việc tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quan tâm và tiến hành thường xuyên tương đối tốt nên hầu như không xảy ra tình trạng quy hoạch treo. c. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với các KCNTT, CCN, các khu đô thị mới Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch SDĐ đã lập và được phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, các cấp các ngành liên quan đã triển khai lập quy hoạch chi tiết và kế hoạch sử dụng đất cho việc phát triển kinh tế đối với các khu công nghiệp tập trung, cụm công nghiệp, các khu đô thị mới cho từng giai đoạn và được Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng và Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh phê duyệt, sau đó tổ chức triển khai lập hồ sơ đất đai và lập phương án bồi thường đất trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt để giao đất, cho thuê đối với các tổ chức kinh tế. 3.4. Công tác giao đất, cho thuê đấtTừ năm 2001 đến nay, toàn tỉnh đã giao đất, cho thuê đất để sử dụng vào mục đích đất ở, đất chuyên dùng được 2.827,77ha. Cụ thể là đất xây dựng đã giao 1.481,86ha, đất giao thông đã giao 487,53ha; đất thuỷ lợi đã giao 130,87ha; đất ở nông thôn đã giao 142,59ha và đất ở đô thị đã giao 323,18ha. Việc giao đất, cho thuê đất đã cơ bản đáp ứng được việc xây dựng các công trình trọng điểm của quốc gia và của tỉnh tạo điều kiện cho các tổ chức, hộ gia đình thuê đất để phát triển sản xuất kinh doanh. 3.5. Công tác xây dựng văn bảnĐể cụ thể hoá việc thi hành luật đất đai, các văn bản sau luật, UBND tỉnh, ngành Địa chính đã phối hợp với các ngành tài chính - vật giá, cục thuế ban hành kịp thời các văn bản thực hiện trên địa bàn tỉnh như: quy định khung giá các loại đất, quy định về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình công cộng. Quy định về mức lao động, vật tư cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hướng dẫn đăng ký, lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nông thôn và đất ở đô thị. Hướng dẫn trình tự, thủ tục lập hồ sơ xin giao đất, thuê đất, thu hồi đất đối với các tổ chứ
c trong nước, thu phí đối với các hoạt động liên quan quản lý nhà nước về đất đai. Nhìn chung, các văn bản đã ban hành kịp thời phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh, làm cơ sở để quản lý và chỉ đạo thực hiện công tác quản lý đất đai ngày càng tốt hơn, đồng thời ngăn chặn kịp thời các vi phạm xảy ra trong công tác quản lý, sử dụng đất đai. 3.6. Công tác thanh tra, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo, tranh chấp đất đai- Tổ chức thanh tra, kiểm tra thực hiện quản lý sử dụng đất đai theo quyết định số 273 của Thủ tướng Chính phủ, kiểm tra tình hình sử dụng đất của các tổ chức kinh tế. - Thanh tra giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại tố cáo. - Tổ chức phòng tiếp dân đúng luật và duy trì chế độ tiếp công dân thường xuyên 1 tháng 2 ngày và bố trí tiếp dân thường xuyên. 4. Hiện trạng sử dụng đất đai Theo số liệu thống kê đến ngày 01/10/2003 tỉnh Bắc Ninh có diện tích đất tự nhiên là 80.757,02ha và được chia ra các loại đất sau: 1. Đất nông nghiệp : 52.094,18 ha Trong đó: Đất lúa, lúa màu : 44.287,86 ha 2. Đất chuyên dùng : 14.526,54 ha Chia ra: + Đất xây dựng :1.675,85 ha + Đất giao thông :5.095,07 ha + Đất thuỷ lợi :6.014,08 ha + Đất di tích LSVH :94,42 ha + Đất quốc phòng an ninh :157,73 ha + Đất làm vật liệu xây dựng và khai thác đất :412,67 ha + Đất nghĩa trang nghĩa địa :893,78 ha + Đất chuyên dùng khác :182,94 ha 3. Đất ở :5.707,90 ha + Đất ở đô thị :591,02 ha + Đất ở nông thôn :5.146,88 ha 4. Đất chưa sử dụng :7.830,24 ha
|