Quy hoạch tổng thể KT-XH
Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 phần II
Thứ Tư, 20/04/2005 - 8:15 PM


Dự báo tác động của bối cảnh quốc tế, trong nước

và các yếu tố phát triển khác đối với quá trình

phát triển kinh tế - xã hội của Bắc Ninh

I. Dự báo tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực có tác động trực tiếp đến nền kinh tế của tỉnh.

1. Tác động của bối cảnh quốc tế trong xu thế hội nhập kinh tế

1.1. Hội nhập tạo cho thị trường xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của Bắc Ninh ngày càng được mở rộng hơn về quy mô, phong phú hơn về chủng loại, nhạy cảm hơn về giá cả

Từ nay đến năm 2020, do tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường sẽ có những thay đổi vô cùng to lớn, tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển. Sự thay đổi của thị trường diễn ra trên các mặt sau: (1) Thị trường trở thành vấn đề toàn cầu, phạm vi thị trường sẽ được mở rộng ra toàn thế giới, không còn bị giới hạn trong phạm vi khu vực hay biên giới quốc gia; (2) Quy mô thị trường sẽ ngày càng phát triển nhanh, mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, nhu cầu sẽ ngày càng lớn hơn về quy mô, phong phú hơn về chủng loại và chất lượng; (3) Giá cả của hàng hoá, dịch vụ trên thị trườ ng quốc tế ngày càng nhạy cảm hơn, phụ thuộc nhiều hơn vào các quy luật của kinh tế thị trường; (4) Nếu như hiện nay thị trường trong nước có vai trò quyết định và là cơ sở để mở rộng, khai thông thị trường ngoài nước thì trong tương lai thị truờng trong nước và ngoài nước sẽ trở thành “một khối”, ranh giới giữa hai khu vực thị trường này sẽ ngày càng mờ nhạt, trong đó thị trường bên ngoài sẽ trở nên ngày càng quan trọng hơn... Các xu hướng trên có tác động rất thuận lợi cho Bắc Ninh, việc thị trường ngày càng mở rộng cho phép mở rộng thêm quy mô sản xuất, phát triển thêm nhiều sản phẩm mới, tăng thêm xuất khẩu...

Thị trường hàng nông sản: Triển vọng thị trường xuất khẩu của các loại hàng nông sản là tương đối sáng sủa bởi nhu cầu ngày càng tăng trên thị trường thế giới (tuy tốc độ tăng không lớn). Ngoài thị trường truyền thống, các nước Tâu Âu, Bắc Mỹ, các nước công nghiệp mới châu áđang có xu hướng sử dụng ngày càng nhiều các sản phẩm nông sản của Việt Nam, do vậy có thể khẳng định rằng quy mô thị trường các mặt hàng nông sản là lớn. Vấn đề là ở chỗ giá cả xuất khẩu của các mặt hàng này thường không ổn định, do vậy cần có các chính sách để có thể khắc phục các thiệt hại do sự biến động của giá quốc tế gây ra. Để xâm nhập cần cải tiến kỹ thuật canh tác, cải tiến giống cây trồng, vật nuôi, hướng tới thị hiếu tiêu dùng, sử dụng công nghệ mới trong chế biến...

Thị trường hàng công nghiệp: Triển vọng thị trường hàng công nghiệp sẽ vô cùng lớn về quy mô, vô cùng đa dạng về chủng loại. Nhưng đây cũng là khu vực thị trường cạnh tranh rất gay gắt và với trình độ hiện nay rất nhiều sản phẩm công nghiệp của Việt Nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng khó cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Để thâm nhập được, Bắc Ninh cần khuyến khích các công ty tìm kiếm các đồng minh chiến lược với công nghệ, kỹ năng quản lý và tên nhãn hiệu mang tính toàn cầu. Đối thủ cạnh tranh lớn nhất về hàng công nghiệp là Trung Quốc.

Thị trường các sản phẩm dịch vụ: Là khu vực thị trường rất rộng lớn, đa dạng nhưng cũng rất khó cạnh tranh trong tương lai. Bắc Ninh chỉ nên lựa chọn một số dịch vụ quan trọng, có lợi thế. Trong những năm trước mắt nên lựa chọn dịch vụ du lịch văn hóa, du lịch làng nghề, du lịch sinh thái, thương mại... và các dịch vụ khác phục vụ các đô thị lớn trong tỉnh và Hà Nội.

1.2. Hội nhập làm cho hàng hoá, dịch vụ của Bắc Ninh sẽ phải đối mặt với nguy cơ cạnh tranh gay gắt hơn, khốc liệt hơn ngay cả trên thị trường nội địa

Do tác động của hội nhập hầu hết các mặt hàng trong nước sẽ phải đối mặt với nguy cơ cạnh tranh lớn hơn do một số nguyên nhân sau: (i) Trong khi khả năng cạnh tranh của một số hàng công nghiệp sản xuất trong nước còn yếu (về giá cả, chất lượng, hình thức mẫu mã) do quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ lạc hậu, tổ chức quản lý còn kém, năng suất lao động thấp thìviệc giảm thuế nhập khẩu xuống còn 0-5%, có nghĩa là giá hàng công nghiệp nhập khẩu sẽ giảm và hàng công nghiệp trong nước sẽphải đối mặt với nguy cơ cạnh tranh lớn hơn; (ii) Cơ cấu hàng công nghiệ p xuất khẩu của Bắc Ninh chủ yếu là các mặt hàng công nghiệp nhẹ tương đối giống các nước ASEAN, nhiều mặt hàng mà công nghiệp Bắc Ninh sản xuất được thì các nước ASEAN cũng sản xuất được nên dẫn đến sự cạnh tranh trực tiếp, gay gắt không những trên thị trường Việt Nam, ASEAN mà cả thị trường ngoài ASEAN; (iii) Khả năng tiếp cận thị trường và tạo lập nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp Bắc Ninh còn hạn chế. Hiện nay còn nhiều doanh nghiệp thiếu một chiến lược sản xuất kinh doanh dài hạn và ổn định, cũng như chưa đề ra một kế hoạch chi tiết dài hạn về phát triển thị trường; (iv) Hệ thống luật pháp, chính sách chế độ quản lý còn nhiều bất cập, đặc biệt là các cơ quan quản lý còn chưa quan tâm đúng mức đến việc hỗ trợ tháo gỡ khó khăn giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh t ranh.

1.3. Hội nhập tạo cơ hội cho việc nhập nguyên liệu, vật tư, máy móc nhập khẩu giảm thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp Bắc Ninh

Các doanh nghiệp sản xuất trong nước nhờ hội nhập được hưởng lợi thế nhập khẩu vật tưnguyên liệu, máy móc, thiết bị với mức thuế nhập khẩu thấp, điều này góp phần làm giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm, do vậy khả năng cạnh tranh của các sản phẩm sẽ có điều kiện để được nâng cao hơn. Tuy nhiên, xu thế này tác động không lớn lắm đối với các ngành công nghiệp của Bắc Ninh. Thực tế là, chi phí nguyên nhiên vật liệu cho các nhóm sản phẩm của hầu hết các ngành công nghiệp của cả nước nói chung, Bắc Ninh nói riêng (dệt, may, da giầy, sản phẩm cơ khí, hàng điện tử...) đều có tỷ lệ gi á trị nguyên liệu trong giá thành sản phẩm trên 60% và phần lớn nguồn nguyên liệu này lại không phải do sản xuất trong nước cung cấp mà do nhập khẩu.

2. Dự báo nguồn vốn đầu tư thu hút từ bên ngoài. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) trong 5 năm 2006 - 2010 dự báo đạt 14,5 tỷ USD, trong đó chuyển từ thời kỳ 2001 - 2005 sang thời kỳ 2006 - 2010 khoảng 6,8 tỷ USD, ký kết trong các hiệp định thời kỳ 2006 - 2010 khoảng 7,7 tỷ USD. Dự báo nguồn vốn ODA thực hiện trong 5 năm 2006 - 2010 khoảng 11,6 tỷ USD, bằng 80% tổng nguồn đã ký kết.

Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) dự báo thực hiện trong 5 năm 2006 - 2010 gồm vốn thực hiện của các dự án đã được cấp phép trong các năm trước năm 2006 nhưng chưa được triển khai thực hiện, vốn thực hiện của các dự án mới được cấp phép trong 5 năm 2006 - 2010 và vốn bổ sung của các dự án đang thực hiện. Dự kiến thực hiện nguồn vốn này trong 5 năm 2006 - 2010 đạt 18 tỷ USD, trong đó công nghiệp chiếm 60%, nông lâm ngư nghiệp chiếm 10% và dịch vụ chiếm 30%.

Như vậy, dự báo nguồn vốn đầu tư thu hút từ bên ngoài đưa vào thực hiện trong 5 năm 2006-2010 đạt khoảng 29,6 tỷ USD, chiếm 26% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội.

II. Tác động của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cả nước, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng thủ đô Hà Nội đến phát triển kinhtế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh

1. Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và vùng đồng bằng sông Hồng và tác động đến tỉnh Bắc Ninh

1. 1- Các nhiệm vụ của cả nước, của vùng ĐBSH đặt ra cho Bắc Ninh

Nền kinh tế – xã hội cả nước, ĐBSH và các tỉnh lân cận sẽ tiếp tục tăng nhanh những năm tới đòi hỏi Bắc Ninh phải có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn để từng bước thể hiện rõ hơn vai trò động lực, cùng với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đi đầu trong một số lĩnh vực.

Từ nay đến năm 2020 nền kinh tế – xã hội cả nước sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh với tốc độ trên 7,5%, trong đó công nghiệp và xây dựng tăng công nghiệp bình quân khoảng 9%, nông nghiệp 3,5-4%, dịch vụ 7-8%. Tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt 30% GDP năm 2010 và 35% năm 2020. Xuất khẩu tăng trung bình trên 14%/năm. Vùng ĐBSH đạt mức tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP) khoảng 10-11%/năm thời kỳ 2005-2010, trong đó công nghiệp tăng khoảng 13-14%; dịch vụ 11%, nông nghiệp khoảng 4-4,5%. Như vậy, các quan điểm, mục tiêu của chiến lược phát triển của cả nước, của vùng ĐBSH phải được thể hiện trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Bắc Ninh, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp, d ịch vụ cần được đầu tư phát triển với mức độ cao hơn, chất lượng lớn hơn, tốc độ tăng cao hơn.

1.2-Chủ trương tiếp tục chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng các ngành trong cơ cấu kinh tế của cả nước và vùng ĐBSH sẽ tác động một cách toàn diện, sâu sắc đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bắc Ninh

Dự báo đến 2010 và 2020, cơ cấu kinh tế của cả nước sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng của dịch vụ và công nghiệp. Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm xuống còn 14% năm 2010 và 9% năm 2020; tỷ trọng công nghiệp tăng tương ứng lên 42% và 45%; dịch vụ tăng lên 44% và 46%.

Cơ cấu kinh tế của các vùng cũng chuyển dịch theo hướng tăng dần các ngành, các sản phẩm chủ lực đóng góp nhiều vào GDP quốc gia. Riêng vùng ĐBSH, xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2010 và 2020 như sau: Các ngành phi nông nghiệp của vùng ĐBSH chiếm khoảng 90% trong tổng GDP, các sản phẩm chủ lực đóng góp 60-65% GDP, độ mở của nền kinh tế đạt trên 90%. Cơ cấu kinh tế của vùng là cơ cấu hiện đại với các ngành mũi nhọn có khả năng đột phá, có sức cạnh tranh.

Bắc Ninh với tư cách là một tỉnh của đồng bằng sông Hồng, đồng thời thuộc vùng KTTĐ Bắc Bộ phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh hơn, nhanh hơn xu thế trên của vùng.

1.3- Bước chuyển động đáng kể của khoa học và công nghệ của cả nước và vùng ĐBSH và vùng KTTĐ Bắc Bộ đặt ra những nhiệm vụ cho Bắc Ninh.

Chủ trương phát triển khoa học và công nghệ là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Chủ trương này cụ thể đến năm 2010 và 2020 như sau:

- Thứ nhất: Sắp xếp lại và phát triển có hiệu quả hệ thống các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học, công nghệ (KH&CN), đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đối với các hướng khoa học công nghệ ưu tiên: điện tử-tin học, sinh học, nguyên vật liệu.

Thứ hai: Xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ mạnh; đủ sức nghiên cứu, sáng chế công nghệ và tiếp thu sáng tạo công nghệ tiến tiến của nước ngoài đáp ứng như cầu của quá trình phát triển.

- Thứ ba: Đổi mới nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới để phát triển nhanh kinh tế-xã hội của các địa phương và toàn vùng. Trước hết là đối với lĩnh vực giống cây trồng, vật nuôi; công nghệ chế biến thực phẩm, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa...

1.4- Triển vọng thị trường trong nước và Bắc Bộ tác động đến Bắc Ninh

Vào năm 2010, dân số của vùng Bắc Bộ khoảng 48 triệu người, và năm 2020 khoảng 55 triệu. Theo các quy hoạch tổng thể phát triển KT – XH các vùng thì vào năm 2010 vùng Bắc Bộ có mức GDP bình quân đầu người khoảng 650-700USD và năm 2020 khoảng 1500 USD. Theo tổng kếtcủa Ngân hàng thế giới thì vớimức GDP/ người như trên, tỷ lệ chi cho hàng công nghiệp sẽ chiếm khoảng 40% tổng chi. Như vậy, tổng giá trị chi cho mua hàng công nghiệp của vùng Bắc Bộ năm 2010 vào khoảng 3.900 – 4.200 triệu USD. Cũng theo tổng kết của Ngân hàng thế giới với mức GDP/người như trên thì tỷ lệ chi cho hàng lương thực, thực phẩm sẽ khoảng 13% tổng chi. Như vậy quy mô tổng giá trị chi cho mua hàng lương thực, thực phẩm của Bắc Bộ vào năm 2010 vào khoảng 600 triệu USD, và năm 2020 khoảng 1000 triệu USD.

Vùng Đồng bằng sông Hồng hiện đóng góp tới khoảng 1/5 GDP cả nước, sẽ là vùng diễn ra quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá nhanh, qui mô lớn. Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt gần 7 - 8 % thời kỳ 2006 - 2010 và 8 - 9 %thời kỳ 2011 - 2020, trong đó công nghiệp tăng 11-12%thời kỳ đầu, 12 - 14% thời kỳ sau. Vùng ĐBSH sẽ phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, các khu công nghiệp kỹ thuật cao, công nghiệp xuất khẩu, các trung tâm thương mại, du lịch, y tế đào tạo tầm cỡ quốc gia và quốc tế, từng bước có khả năng đối ứng với sự phát triển và cạnh tranh của Trung Quốc và các nước khác trong khu vực; ĐBSH cũng sẽ được đầu tư để củng cố, nâng cấp và xây dựng thêm kết cấu hạ tầng, đặc biệt là giao thông đường bộ (đáng chú ý là tuyến đường 1A, đường 10 với các tiểu vùng, đường 21, đường 39...), đường thủy (đáng chú ý có tuyến sông Hồng, sông Đáy, các hải cảng), đường hàng không...

2. Phương hướng phát triển kinh tế – xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và yêu cầu đặt ra đối với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh.

Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 là 10,25% bằng khoảng 1,3 lần mức tăng trưởng bình quân chung của cả nước. Quy hoạch của các tỉnh lân cận đều đặt mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng trên 7,5%, trong đó có nhiều tỉnh đạt tới 9-10%.

Dự báo vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2010 và năm 2020 như sau: Dự kiến đến năm 2010 tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ sẽ tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP của Vùng trong khoảng 94-95% (công nghiệp khoảng 44-45%, dịch vụ khoảng 50-51%) và đến năm 2020 đạt khoảng 96-97% (công nghiệp khoảng 46-47%, dịch vụ 50-51%). Tăng tỷ trọng lao động làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp từ 44% năm 2000 lên 57% năm 2005 và 65% năm 2010. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng số việc làm có năng suất cao, tiêu hao ít năng lượng hơn,… trên cơ sở phát triển các ngành công nghệ cao và sản xuất các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao.

Về công nghiệp, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệcao, công nghiệp bổ trợ, công nghiệp cơ khí chế tạo… Đặc biệt quan tâm đến phát triển tiểu thủ công nghiệp. Chuyển dịch dần công nghiệp lên dọc hành lang đường 18 tại những khu vực gò đồi, đất xấu để giảm sử dụng đất tốt dành cho sản xuất nông nghiệp và tránh tập trung công nghiệp quá mức vào các đô thị, khu dân cư vùng đồng bằng.

Về dịch vụ, tập trung phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao và toàn diện, đặc biệt là dịch vụ tài chính ngân hàng, thương mại, du lịch, dịch vụ công nghệ, viễn thông, vận tải, phát triển thị trường bất động sản, thị trường vốn, thị trường chứng khoán; phát huy có hiệu quả các tổ chức tài chính. Xây dựng ở vùng KTTĐ Bắc Bộ trung tâm khoa học công nghệ có tầm cỡ quốc gia, khu vực và quốc tế, chuyển giao công nghệ,…

Về nông lâm thuỷ sản, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có năng suất, chất lượng cao, tạo nhiều giá trị trên mỗi đơn vị diện tích đất nông lâm nghiệp, phục vụ trực tiếp và chủ yếu cho nhu cầu tiêu dùng ở các khu đô thị và các khu công nghiệp trong vùng và xuất khẩu. ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ bảo quản và chế biến rau sau thu hoạch. Chú trọng phát triển nông nghiệp sạch, gắn phát triển nông nghiệp với việc xây dựng nông thôn mới trên cơ sở phát triển công nghiệp chế biến và phát triển kinh tế hộ gia đình. Chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá.

Về kết cấu hạ tầng, tiếp tục phát triển đồng bộ và hiện đại hoá hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông và đường hàng không. Hoàn thành việc xây dựng và nâng cấp quốc lộ 5, 10, 18, 21, 21B.

Xây dựng các trung tâm hoạt động văn hoá để khôi phục và phát huy giá trị văn hoá truyền thống và đưa các hoạt động này vào nề nếp. Phát triển các cơ sở, trạng thiết bị và các dịch vụ y tế, nhất là trung tâm y tế chất lượng cao, đảm bảo trang thiết bị tiên tiến và hiện đại, tránh tập trung vào Hà Nội. Phát triển và từng bước nâng cao năng lực của các cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ giáo dục nâng cao dân trí.

Về phát triển hệ thống các đô thị, đưa công nghiệp đặc biệt các ngành sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm ra xa nội thành gắn với việc hình thành các khu đô thị vệ tinh, khu đô thị mới, gắn kết với các đô thị tiếp giáp như Hoà Lạc, Xuân Mai, Hà Đông, Sơn Tây, Hưng Yên, Phố Nối, Mê Linh, Vĩnh Yên, Bắc Ninh, Phủ Lý tạo thành chùm đô thị hạt nhân.

Ngoài các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, đối với các thành phố thị xã khác với quy mô dân số khoảng 15-20 vạn người và là đô thị tỉnh lỵ, trung tâm kinh tế của một khu vực cũng sẽ được phát triển gắn với hệ thống đô thị chung của cả vùng. Đồng thời dọc theo cáctrục quốc lộ và tại các vùng sản xuất hàng hoá tập trung đông dân, các thị trấn thị tứ cũng sẽ được nâng cấp và hình thành thêm theo quy hoạch thống nhất.

Tỉnh Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế – xã hội, mạng lưới kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư, phát triển các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.

3. Xu thế phát triển vùng thủ đô Hà Nội và vấn đề phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh

Hiện nay quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội đang được nghiên cứu, trong đó không gian đô thị Hà Nội sẽ được mở rộng không gắn với việc mở rộng địa giới hành chính của thành phố Hà Nội.

Một số định hướng bố trí không gian kinh tế vùng thủ đô Hà Nội như sau:

(1)- Giảm bớt sự tập trung quá mức vào thành phố Hà Nội, tập trung phát triển ở thủ đô Hà Nội các dịch vụ chất lượng cao, công nghiệp công nghệ cao.

(2)- Phát triển các tại các tỉnh xung quanh Hà Nội các ngành công nghiệp bổ trợ, đa dạng các loại hình dịch vụ, các cơ sở y tế, đào tạo chất lượng cao để giảm áp lực vào Hà Nội.

(3)- Mở rộng phát triển nội thành Hà Nội đến quy mô hợp lý, hạn chế phát triển lan tỏa theo các trục QL 5, QL 1, đường Láng - Hòa Lạc. Từng bước hình thành các hành lang kinh tế đường 18, đường 21.

(4)- Gắn phát triển công nghiệp, dịch vụ với xây dựng và mở rộng các đô thị, các khu đô thị mới và nối với Hà Nội bằng các tuyến trục và có các vành đai nông nghiệp bao quanh.

Tỉnh Bắc Ninh, nằm tiếp giáp với thành phố Hà Nội có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc phát triển, liên kết với Hà Nội và các địa phương khác trong vùng về kết nối mạng kết cấu hạ tầng, cung ứng lao động, nguyên liệu, thực phẩm cho các khu công nghiệp, khu đô thị mới.

4. Xu hướng hợp tác, cạnh tranh với các tỉnh trong vùng và liên vùng và vấn đề quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh

- Hợp tác giữa Bắc Ninh với Hà Nội và các địa phương trong vùng

Trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, Hà Nội là thị trường lớn tiêu thụ các nông, lâm sản của Bắc Ninh, Hà Nội sẽ tạo các điều kiện thuận lợi về thị trường tiêu thụ hoặc xuất khẩu nông sản hàng hoá của Bắc Ninh. Hà Nội cùng với Bắc Ninh có khả năng hợp tác sản xuất giống cây trồng có chất lượng cao, phù hợp với yêu cầu của thị trường và đáp ứng cho nhu cầu chế biến công nghiệp. Chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, kinh nghiệm về sản xuất gieo ươm hạt giống, vùng sản xuất rau an toàn đảm bảo vệ sinh thực phẩm, cung ứng giống bò sữa chất lượng cao.

Phối hợp hoạt động của hệ thống thuỷ nông, Bắc Ninh và Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Giang thực hiện kiên cố hoá kênh mương và thống nhất quy trình tưới tiêu giữa các địa phương.

Về công nghiệp, Bắc Ninh có thể phối hợp với các địa phương trong quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp tập trung, hợp tác phát triển công nghiệp chế biến rau quả, hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến cho các cụm công nghiệp, làng nghề truyền thống, hỗ trợ tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Trong lĩnh vực thương mại, hợp tác xây dựng các trung tâm thương mại như trung tâm thương mại Bắc Ninh tại Hà Nội và Hà Nội tại Bắc Ninh, Từ Sơn. Hợp tác phát triển công tác thông tin và xúc tiến thương mại, cùng tổ chức các cuộc hội chợ, triển lãm.

Hợp tác khai thác có hiệu quả trong hoạt động quản lý và kinh doanh du lịch, dịch vụ. Phối hợp tuyên truyền và quảng bá du lịch, đào tạo nguồn nhân lực cung cấp cho ngành du lịch, hợp tác để xây dựng một số cơ sở lưu trú, một số hoạt động dịch vụ khác.

Bắc Ninh có thể phối hợp với Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh... để xây dựng các tour du lịch nhằm khai thác các lợi thế so sánh và đặc thù riêng của mỗi địa phương về di tích lịch sử, văn hoá, các lễ hội truyền thống, các làng nghề, làng cổ.

Trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị, phối hợp với các địa phương xây dựng các đường vành đai của Hà Nội (cả đường bộ và đường sắt) và cùng tính đến không gian phát triển đô thị, nhà ở ngoại thành. Phối hợp mở các tuyến đường liên tỉnh, phối hợp quản lý đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình. Hợp tác trên lĩnh vực quy hoạch, đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí, các khu nhà ở, trao đổi kinh nghiệm trong xây dựng và quản lý phát triển đô thị.

Ngoài ra, giữa Bắc Ninh và Hà Nội, các địa phương trong vùng có thể hợp tác trong các lĩnh vực đào tạo, cung cấp các dịch vụ y tế, khoa học - công nghệ...

- Vấn đề cạnh tranh giữa Bắc Ninh và các tỉnh trong vùng.

Bắc Ninh và các tỉnh trong vùng cùng sản xuất nhiều loại nông sản: lúa gạo, rau, hoa quả, thịt gia súc, gia cầm... do vậy cần phối hợp trong việc mở rộng thị trường, xây dựng các vùng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến, tránh cạnh tranh không lành mạnh, thừa năng lực chế biến.

Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Dương là các địa phương có chung nhiều lợi thế trong phát triển các khu công nghiệp. Các tỉnh cần phối hợp trong việc quy hoạch các khu công nghiệp, ban hành các cơ chế thu hút đầu tư, giải phóng mặt bằng, hạn chế lãng phí đất nông nghiệp.

III. Đánh giá tổng quát những lợi thế và hạn chế

1. Lợi thế

Bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, Bắc Ninh có những thuận lợi về phát triển kinh tế - xã hội như năng lực sản xuất và kết cấu hạ tầng đã phát triển một bước, tiềm lực kinh tế khá phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Nguồn lực về lao động, đất đai, mặt nước chưa sử dụng vẫn còn ; khả năng tăng năng suất, chất lượng cây trồng vật nuôi còn lớn. Vị trí địa lý của Bắc ninh gắn với vùng KTTĐ Bắc Bộ và nằm cạnh thủ đô Hà Nội đưa lại những cơ hội mới cho sự phát triển. Cụ thể là:

-Có vị trí địa lý kinh tế rất thuận lợi của một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ Đô Hà Nội, là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ có các hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như quốc lộ 1A nối Hà Là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, đầu mối phía Tây của tuyến hành lang kinh tế đường 18 và đầu mối giao thông quan trọng về đường sắt, đường bộ, đường sông theo chiều bắc - Nam và Đông - Tây. Rất thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội và giao lưu kinh tế.

Hệ thống các khu công nghiệp được phát triển; có thị xã Bắc Ninh với thế mạnh phát triển công nghiệp, trung tâm phát luồng bán buôn dịch vụ cùng với hệ thống các đô thị vệ tinh sẽ tạo ra những lợi thế phát triển mới, tạo ra địa bàn hấp dẫn và thu hút đầu tư.

- Bắc Ninh có tiềm năng văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, nơi hội tự của kho tàng văn hóa nghệ thuật đặc sắc truyền thống văn hóa Kinh Bắc, mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, vẽ tranh dân gian... cộng với nhiều cảnh quan đẹp là tiềm năng lớn để phát triển du lịch văn hóa, lễ, du lịch sinh thái, du lịchthắng cảnh, du lịch làng nghề, du lịch làng Việt cổ.

- Đa dạng về địa hình, phong phú về khí hậu, hình thành nhiều vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau, cho phép phát triển một nền nông nghiệp sinh thái toàn diện và tổng hợp.

- Bắc Ninh có một đội ngũ cán bộ khoa học khá đông có trình độ chuyên môn khá, đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao, đa số người lao động đã tiếp cận với nền sản xuất hàng hóa. Trình độ dân trí khá cao, một bộ phận dân cư có trình độ sản xuất hàng hóa, năng động với cơ chế thị trường.

2. Khó khăn và thách thức

- Điểm xuất phát thấp, nền kinh tế phát triển chưa toàn diện, kết quả chưa tương xứng với lợi thế của địa phương; cơ cấu kinh tế còn có bộ phận chuyển dịch chậm, chưa đồng bộ. Một số hoạt động thuộc lĩnh vực thương mại, du lịch - dịch vụ, khoa học công nghệ môi trường, văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao còn yếu. Giải quyết một số vấn đề búc xúc về xã hội còn chậm, chưa vững chắc; trật tự an toàn xã hội, nhất là mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, an ninh nông thôn diễn biến phức tạp.

- ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới thiết bị hiện đại vào sản xuất còn ít nên chưa hình thành được nền kinh tế mũi nhọn, sản phẩm chiếm ưu thế tiêu thụ trên thị trường trong nước và xuất khẩu chưa nhiều.

-Năng lực, trình độ lãnh đạo, chỉ đạo và khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn, những vấn đề mới của một số ít lãnh đạo chủ chốt sở, ban, ngành, huyện, thị xã còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và đòi hỏi của giai đoạn phát triển mới.

- Đời sống nhân dân tuy có được cải thiện nhưng chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư và giữa các khu vực trong tỉnh rất lớn và tiếp tục tăng.

- Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới mở ra những thuận lợi mới để tỉnh phát triển nhưng đồng thời cũng tạo sức ép cạnh tranh quyết liệt.

Các tin, bài mới hơn:
» Phần mở đầu dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 (20/04/2005)
» Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 phần I (20/04/2005)
Các tin, bài trước:
» Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 phần III (20/04/2005)
» Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 phần IV (20/04/2005)

Bacninh Portal - Cổng giao tiếp điện tử Bắc Ninh - Giai đoạn 3 (Phiên bản đang tiếp tục xây dựng)
© Bản quyền thuộc UBND tỉnh Bắc Ninh. Trung tâm Tin học - UBND Bắc Ninh quản lý.
3C Soft - 3C Inc,. (Hiển thị tốt nhất ở chế độ màn hình 800 x 600)