Quy hoạch khu du lịch
Đánh giá tài nguyên phát triển Du lịch tỉnh Bắc Ninh.
Chủ Nhật, 04/01/2004 - 10:56 AM


1. Nhận định tổng quát

- Bắc Ninh là tỉnh nhỏ nằm trong đồng bằng Bắc Bộ, phía Bắc giáp Bắc Giang, phía Nam giáp Hưng Yên, phía tây giáp Hà Nội, phía Đông giáp Hải Dương.

            - Bắc Ninh là nơi chuyển tiếp từ đồng bằng trung du, có xen lẫn đồi núi sót với độ cao từ 20-120m so với mặt biển. Độ nghiêng dốc từ Đông Bắc xuống Tây Nam.

            - Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu đồng bằng trung du Bắc Bộ, thời tiết khô nóng có nhiệt độ và độ ẩm cao, nắng và mưa nhiều. Có hai mùa rõ rệt: Mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10 thời tiết nóng, hướng gió chính là Đông Nam, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời tiết khô hanh, hướng gió chính là Đông Bắc.

                - Bắc Ninh có 3 sông chính: sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình và các nhánh rẽ ngang như: Ngũ Huyện Khê, Tào Khê...Những ngã ba sông này đã hình thành nên các thị tứ, thị trấn của một vùng châu thổ trù phú ? vựa thóc của cả vùng Bắc Hà xưa.

2. Tài nguyên Du lịch nhân văn

2.1. Dân cư:

Bắc Ninh có diện tích tự nhiên 803,93 km2, dân số 965.815 người (Năm 2001), mật độ dân số trung bình 1201 người /km2, qua đó cho thấy Bắc Ninh là vùng dân cư đông đúc. Tỷ lệ sinh tự nhiên trung bình trong giai đoạn 1995-2000 khoảng 14,1%0 . Dân số sống ở vùng nông thôn vẫn chiếm tỷ lệ tương đối lớn .

Bảng 1 :Phân bố dân cư theo các đơn vị hành chính tỉnhBắc Ninh (31/12/2001).

Tên đơn vị

D.tích

(Km2)

D.số (Người)

M.độ

Ng/Km2

Đơn vị hành chính Ph.xã

Phường

T.trấn

Tổng số

803.93

965815

1201

112

5

6

Bắc Ninh

26.34

76950

2921

4

5

-

Yên Phong

112.53

142433

1266

17

-

1

Quế Võ

17.070

152393

893

23

-

1

Tiên Du

108.21

128608

1189

15

-

1

Từ Sơn

61.41

119914

1953

10

-

1

Thuận Thành

116.04

140932

1215

17

-

1

Lương Tài

101.16

102530

1014

13

-

1

Gia Bình

107.54

102055

949

13

-

-

Theo số liệu thống kê năm 2001, lao động xã hội có 536.787 người ( Chiếm khoảng 54,9% dân số của tỉnh), trong đó lao động trong khu vực dịch vụ có 47.921 người(Chiếm khoảng 8,5 % lao động xã hội), lao động trực tiếp trong ngành du lịch năm 2001 có 420 người, trong đó lao động trực tiếp trong các doanh nghiệp nhà nước (Công ty du lịch, Trung tâm lữ hành xuất nhập khẩu và nhà nghỉ Suối Hoa) có 152 người (Chiếm 36 % lao động ngành Du Lịch )

2.2. Tài nguyên nhân văn

Tài nguyên Du lịch nhân văn của Bắc Ninh khá đa dạng và phong phú với nhiều loại hình khác nhau, nhưng nổi bật nhất và được nhiều người biết đến là các di tích lịch sử, văn hoá, tiêu biểu là đình, chùa và hát dân ca Quan Họ Bắc Ninh

2.2.1. Các di tích lịch sử văn hoá.

Bắc Ninh có rất nhiều các di tích lịch sử, văn hoá, mật độ phân bố các di tích chỉ đứng sau Thủ đô Hà Nội. Tính đến 31/12/2001, toàn tỉnh có 233 di tích lịch sử, văn hoá được cấp bằng công nhận di tích cấp Quốc gia và cấp địa phương.

Bảng 2: Phân bố các di tích được xếp hạng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Địa điểm

Tổng số

Xếp hạng

Quốc gia

Xếp hạng

Địa phương

Cả tỉnh

233

162

71

Thị xã Bắc Ninh

27

20

7

Huyện Từ Sơn

51

37

14

Huyện Tiên Du

34

23

11

Huyện Quế Võ

22

16

6

Huyện Thuận Thành

20

16

4

Huyện Lương Tài

18

8

10

Huyện Gia Bình

18

8

10

Huyện Yên Phong

46

37

9

            - Các di tích xếp hạng tập trung chủ yếu ở các huyện Tiên Du, Từ Sơn, Yên Phong, Thị xã Bắc Ninh, Thuận Thành. Trong tổng số 233 di tích được xếp hạng thì Đình, Đền, Chùa là những loại hình di tích chiếm số lượng tuyệt đại đa số. Quả không sai khi nói đến xứ Bắc là xứ của đình, chùa.

- Di tích có giá trị lịch sử văn hoá quan trọng không chỉ trong phạm vi tỉnh mà có ý nghĩa Quốc gia, Quốc tế đó là quần thể di tích: Đền Đô, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích, chùa Dạm, Văn Miếu...Những điểm di tích này phân bố trên các địa bàn trong tỉnh và hình thành các cụm, điểm du lịch cụ thể như sau:

a. Các điểm thuộc thị xã Bắc Ninh:

- Văn Miếu: Bắc Ninh là tỉnh lập Văn Miếu riêng đầu tiên của cả nước. Văn Miếu Bắc Ninh khởi dựng từ thời Lê, ở vùng Thị Cầu năm 1893 được chuyển về núi Phúc Sơn xã Đại Phúc.

-Thành cổ Bắc Ninh: Thành Bắc Ninh theo sách Đại nam nhất thống chí có chu vi 532 trượng 3 thước 2 tấc, cao 9 thước mở 4 cửa nằm ở phường Vệ An thị xã Bắc Ninh.

- Cụm di tích đình và chùa Cổ Mễ: Đình Cổ Mễ là một ngôi đình lớn kiến trúc chữ nhật với 5 gian 2 vì , các cột đều sơn son thếp vàng nay đã phai màu. Các mảng chạm khắc gỗ ở đình rất đẹp thể hiện theo các đề tài long vân đại hội, ngũ hổ tranh châu... nghệ thuật điêu luyện. Đình được xây dựng năm 1681.

+ Chùa Cổ Mễ có từ lâu đời. Ngày nay trong chùa có 3 pho tượng đá khá đẹp mang rõ phong cách thời Mạc. Chùa còn lại đến nay là kiến trúc thời Nguyễn làm theo kiểu chữ Đinh trạm khắc công phu.

+ Đền Bà chúa Kho: Đền thờ đến nay còn lại là một kiến trúc thời Nguyễn, xây đơn giản theo kiểu tam ban cao dần trên sườn núi kho. Đây là một công trình tưởng niệm hiếm hoi còn lại của chiến thắng Như Nguyệt dưới sự lãnh đạo thiên tài của anh hùng Lý Thường Kiệt.

Ngoài các điểm du lịch quan trọng trên, ở khu vực thị xã Bắc Ninh còn có những điểm Du lịch khác như : Đền thờ Nguyễn Phúc Xuyên và chùa Linh Sơn, ở xã Đại phúc, đền Thanh Sơn, di tích nghệ thuật ở xã Vũ Ninh cùng với cụm di tích đình, chùa Cổ Mễ, Đền, chùa Điều Sơn, núi Dinh ở phường thị Cầu, thị xã Bắc Ninh ....

b. Các điểm thuộc huyện Từ Sơn.

- Cụm di tích Đình Bảng: Cụm di tích Đình Bảng bao gồm Đền Đô, quần thể lăng mộ các vua Triều Lý và Đình làng đình Bảng .

+ Đền Đô (Đền Cổ Pháp): Thờ 8 vị vua Triều Lý: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông,Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông, cũng vì vậy mà đền còn có tên là Lý Bát Đế. Đền thuộc làng Cổ Pháp xưa, nay là xã Đình Bảng huyện TừSơn.

Ngoài đền Đô khu vực Đình Bảng còn một số di tích nữa liên quan đến vị vua Triều Lý. Đó là Chùa Dặn (Tức chùa ứng Tâm). Nơi sinh ra vua Lý Thái Tổ, Đền Rồng thờ Lý Chiêu Hoàng, Thọ Lăng Thiên Đức ( mộ vua Lý )...

Hàng năm từ ngày 14-17/3 âm lịch nhân dân xã Đình Bảng lại tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công đức của 8 vị vua Nhà Lý .

+ Đình Đình Bảng: Ngôi đình nổi tiếng nhất trong các ngôi đình cổ ở Việt Nam. Đình được khởi công xây dựng từ năm Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu đời vua Lê ý Tông (1736), thờ 3 vị Thành Hoàng làng: Cao Sơn Đại Vương (Thần đất), Thuỷ Bá Đại Vương (Thần nước)và Bạch Lệ Đại Vương (Thần trồng trọt)- đều là những phúc thần phù hộ dân làng làm ăn sinh sống. Ngoài ra đình còn thờ Lục tổ (6 vị có công lập lại làng vào thế kỷ 15).

+ Chùa Tiêu: Trong Đại Nam Nhất Thống Chícòn gọi là chùa Thiền Tâm thuộc xã Tiêu Sơn, nay là xã Tương Giang, nơi trụ trì của nhà sư Vạn Hạnh. Theo tương truyền bà Phạm Thị, mẹ của Lý Thái Tổ thường thăm cảnh chùa Tiêu Sơn, gặp thần nhân mà sinh ra Vua.

Những điểm Du lịchkhác như: Chùa Đồng Kỵ, làng rèn Đa Hội, làng dệt Đình Cả, làng trạm khắc Đồng Kỵ, nhà lưu niệm đồng chí Nguyễn Văn Cừ, nhà tưởng niệm đồng chí Ngô Gia Tự .

c. Các điểm thuộc huyện Tiên Du :

- Chùa Phật Tích: Còn có tên chữ là ?Vạn Phúc Tự?, xây dựng trên sườn núi Lạn Kha, xã Phật Tích huyện Tiên Du . Chùa được khởi dựng năm 1057, dưới triều Vua Lý Thánh Tông (1054-1072). Tuy đã mất mát nhiều song kiến trúc chùa Phật Tích hiện nay vẫn là một di tích kiến trúc phật giáo quan trọng, hàng năm vào ngày 4 tháng riêng ở đây có mở hội xem hoa, câu truyện truyền kỳ Từ Thức gặp Tiên.

- Khu di tích Lim: Bao gồm chùa Hồng Ân, núi Lim (Hồng Ân Sơn) thuộc xã Vân Tương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây hàng nămnhân dân Bắc Ninh đều có tổ chức lễ hội (hội Lim) với nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian, tiêu biểu nhất là hát dân ca Quan họ.

- Chùa Bách Môn: Chùa Bách Môn thờ phái Đại thừa, không những thờ nhiều phật mà còn thờ nhiều vị thần linh. Việc bố trí điện thờ ở đây cũng đặc biệt. Chính điện hướng Namcó các bệ thờ phật, cao dần về phía vọng cung đặt các lớp tượng ADi Đà (quá khứ ), thấp dần là lớp tượng Thích Ca (hiện tại ), rồi đến lớp tượng Di Lặc (tương Lai). Lớp tượng nói về sự tích Đức Phật: Tượng Tuyết Sơn, Thích Ca sơ sinh ở dưới cùng. Hàng năm đến ngày 16/1 âm lịch, dân làng tổ chức lễ hội truyền thống thu hút hàng vạn khách hành hương về lễ phật. Ngôi chùa cổ kính được xây dựng từ Vương Tr i ề u Lý, được các ông hoàng, bà chúa nhiều đời bỏ tiền của ra trùng tu, tôn tạo .

d. Các điểm thuộc huyện Quế Võ.

- Chùa Hàm Long : Thuộc thôn Thái Bảo xã Nam Sơn. Đây là một ngôi chùa nằm ở núi Dạm. Ngôi chùa có từ rất sớm ( 1158). Tương truyền đây là nơi tu hành của nhà sư Dương Không Lộ, hàng năm vào ngày 15/2 âm lịch chùa lại có hội, hội chùa mang tính tâm linh cao như tế sao giải hạn...

-Ngoài ra ở Quế Võ còn có một số điểm Du lịch tham quan khác như đền thờ 18 vị Tiến sĩ họ Nguyễnlàng Kim Đôi, chùa Đại Lãm (chùa Dạm) thuộc xã Nam Sơn (ở chùa này có các yếu tố văn hoá Chàm (biểu tượng Linga), chùa Bách Tháp....

e. Các điểm thuộc huyện Thuận Thành :

- Chùa Dâu: Chùa được xây dựng trên đất làng Dâu, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành. Tương truyền được xây dựng vào cuối thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên gắn với sự tích về Man Nương, người làng Mẫn Xá bờ Nam sông Đuống Hàng năm vào ngày 8/4 âm lịch nhân dân Bắc Ninh lại tổ chức hội chùa Dâu.

- Chùa Bút Tháp : Tên chữ là Linh Phúc Tự, được khởi dựng từ đời vua Trần Thánh Tông (1258-1278), ở làng Bút Tháp xã Đình Tổ huyện Thuận Thành, khi Huyền Quang- một trong 3 vị tổ sư của thiền phái Trúc Lâm thời Trần, đỗ trạng Nguyên năm 1297 trụ trì ở đây. Chùa Bút Tháp là một tác phẩm kiến trúc nghệ thuật quý giá cần được chăm sóc bảo trì thường xuyên .

- Lăng Sĩ Nhiếp : ở xã Gia Đông huyện Thuận Thành.Vương họ là Sĩ, tên là Nhiếp, tự là Ngạn Uy, đời Hán Đinh Đế (168-189) làm thái thú Giao Châu gần 40 năm. Lịch triều phong làm phúc thần. Năm Minh Mệnh thứ 4, đăng thờ ở miếu Lịch Đại Đế Vương, năm thứ 18 đổi liệt thờ phụ Văn Miếu.

Ngoài những điểm chính kể trên ở Thuận Thành còn một số điểmnhư lăng và đền thờ Kinh Dương Vương, Thành Luy Lâu và làng tranh dân gian Đông Hồ đã tạo thành một cụm Du lịch với các sản phẩm Du lịch đặc sắc.

f. Các điểm thuộc huyện Yên Phong

- Đình làng Diềm: Làng Diềm tên chữ là Viêm Xá, là làng Quan họ gốc lâu đời nhất. Đình được xây vào năm Nhâm Thân, niên hiệu Chính Hoà thứ 12, đời Lê Hy Tông (1692). Đây là ngôi đình không lớn lắm, nhưng có nhiều vẻ độc đáo. Đặc biệt ở đây có thể thấy rõ những yếu tố ảnh hưởng của văn hoá Chàm.

- Cùng với đình Diềm còn có đền Diềm hay còn gọi là đền Vua Bà ( Đức Bà Nam Hải Đại Vương ). Hàng năm vào ngày 6/8 có lễ hội đình và ngày 6/2 lễ hội đền Vua Bà ( Hội hát Quan họ).

Ngoài ra ở Yên Phong còn có một số điểm di tích đáng chú ý có thể khai thác phục vụ Du lịch như: Điếm Trung Quân - Đại bản doanh phòng tuyến sông Cầu ở xã Yên Phụ, Cầu Gạo, bến sông Như Nguyệt. Những điểm này có thể khai thác để xây dựng tuyến Du lịch chuyên đề.

g. Các điểm thuộc huyện Gia Bình

- Đền thờ Lê Văn Thịnh: Đây là cụm di tích có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử, tưởng niệm vị Trạng nguyên đầu tiên của nước ta. tại đây còn nhiều di vật quí hiếm bằng đá như bia đá, rồng đá...Khu di tích lại nằm trong khung cảnh thơ mộng của núi Thiên Thai và sông Thiên Đức càng có giá trị lớn về Du lịch.

Ngoài ra còn có các di tích: Đền thờ Huyền Quang, đình làng nghề đúc đồng Đại Bái, đền thờ Cao Lỗ Vương...

2.2.2. Lễ hội truyền thống

           Lễ hội truyền thống Bắc Ninh là một đối tượng Du lịch văn hoá của tỉnh. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 41 lễ hội đáng chú ý trong năm được duy trì. Trong đó có những lễ hội có ý nghĩa đặc biệt và có tầm ảnh hưởng lớn như: Hội chùa Dâu, hội Lim, hội đền Đô, hội đền Bà Chúa Kho?

2.2.3. Nghề thủ công truyền thống.

Bắc Ninh xưa nay vốn là vùng có nghề thủ công nổi tiếng, có tới hàng chục làng nghề khác nhau, nơi tập trung nhiều làng nghề nhất là huyện Từ Sơn như làng rèn Đa Hội, làng dệt Lũng Giang, sơn mài Đình Bảng, chạm khắc Đồng Kỵ...Ngày nay nhiều làng nghề đã bị mai một việc khôi phục và phát triển các làng nghề vừa để phát triển kinh tế địa phương vừa để phát triển Du lịch được tỉnh quan tâm với việc qui hoạch lập các cụm công nghiệp làng nghề tập trung đang được khẩn trương triển khai thực hiện.

2.2.4. Ca múa nhạc

            Dân ca Quan họ là một đặc trưng nổi bật và đặc sắc của Bắc Ninh, sự nổi tiếng của dân ca Quan họ đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Dân ca Quan họ đằm thắm duyên quê, mỗi khi chợt thoáng nghe đều chạnh lòng nhớ về quê hương cội nguồn, vì vậy tổ chức nghiên cứu, trình diễn Quan họ phải trở thành chương trình chủ yếu của Du lịch Bắc Ninh.

3. Tài nguyên Du lịch sinh thái

Địa hình Bắc Ninh có xen lẫn đồi núi sót với độ cao từ 20 đến 120m so với mặt biển, đồi núi sót lại thường gần các con sông và các thung lũng có thể tạo thành hồ nước rộng hàng chục ha với những di tích lịch sử, văn hoá như đền, chùa, miếu mạo tạo nên khung cảnh sơn thuỷ hữu tình. Đó là điều kiện rất thuận lợi để tạo ra môi trường sinh thái quan trọng cho các điểm Du lịch, vì vậy ngành Du lịch phải phối hợp chặt chẽ với ngành lâm nghiệp nghiên cứu, tiếp tục đẩy mạnh việc trồng cây phủ xanh, làm đẹp các đồi phụ cận, tạo ra các rừng cảnh quan sinh thái hấp dẫn cho các điểm Du lịch.

Bên cạnh đó sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn, Bắc Ninh đã và đang hình thành nhiều mô hình trang trại lớn, nếu biết khai thác và có bước đi phù hợptrên cơ sở phối hợp chặt chẽ với cấp chính quyền địa phương điều đó sẽcó ý nghĩa lớn đối với du lịch sinh thái Bắc Ninh.

Bắc Ninh nằm trong vùng văn minh châu thổ sông Hồng, có 3 con sông lớn chảy qua các làng mạc, thôn xóm và bồi đắp hình thành các bãi bồi ven sông xanh ngắt bãi lúa, nương dâu là điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển Du lịch sinh thái, làng quê. Ngành Du lịch trong những năm tới cần xác định rõ yếu tố này nhằm định hướng tuyến Du lịch đường sông khai thác tốt các lợi thế sinh thái tự nhiên, phong cảnh, tập quán làng quê Kinh Bắc, tạo sự đa dạng, phong phú vềloại hình Du lịch.



Sở TM&DL