1. Thực trạng hoạt động Du lịch ?xml:namespace>
1.1. Về khách Du lịch:
Trong những năm gần đây đặc biệt từ năm 1999 xu hướng đi Du lịch ngày càng tăng và trở thành nhu cầu trong đời sống tinh thần của xã hội. Cùng với sự gia tăng của lượng khách Du lịch trong cả nước, khách Du lịch đến Bắc Ninh cũng ngày càng cao. Theo số liệu thống kê, lượng khách Du lịch đến Bắc Ninh trong giai đoạn 1997-2001 đạt mức tăng bình quânlà 14%/năm. Lượng khách quốc tế đến Bắc Ninh chủ yếu là từ các nước Mỹ, Anh, Bỉ , Hà Lan, Pháp...Và từ một số nước thuộc khu vực Đông Nam á. Mục đích chủ yếu là tham quan và tìm hiểu các di tích lịch sử, nghiên cứu các giá trị văn hoá tại các di tích tiêu biểu nhưđền Đô, Chùa Bút Tháp, Chùa Dâu... Lượng khách du lịch nội địa của Bắc Ninh chủ yếu là khách du lịch tín ngưỡng, du lịch lễ hội và đến từ một số địa bàn phụ cận nhưHà Nội, Hải phòng, Quảng ninh...do vậy tập trung chủ yếu vào các tháng đầu năm. Số lượt khách du lịch được khai thác có nhịp độ tăng trưởng khá, tuy nhiên giá trị tuyệt đối về số lượt khách được khai thác trong những năm qua còn rất hạn chế. Khách du lịch ở lại lưu trú Bắc Ninh rất ít và thường là khách đi lẻ với mức độ chi tiêu khônglớn.
Bảng 3 :Lượng khách sử dụng dịch vụ Du lịch trên địa bàn Bắc Ninh Đơn vị tính : Lượt khách Tỉnh, T.phố | 1997 | 1998 | 1999 | 2000 | 2001 | Ước 2002 | Bắc Ninh | 18.040 | 21.400 | 29.300 | 30.200 | 37.000 | 40.000 | Cả nước | 10.200.000 | 11.600.000 | 12.300.000 | 13.140.000 | 13.980.000 | 14.700.000 |
Nguyên nhân của tình hình trên là do: - Việc triển khai thực hiện qui hoạch tổng thể còn chậm - Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật Du lịch thấp và chưa được đồng bộ - Chưa tạo ra được các sản phẩm Du lịch đặc sắc, có chất lượng cao, có tính đặc thù hấp dẫn khách. - Đội ngũ nhân viên phục vụ trong các cơ sở kinh doanh hạn chế cả về số lượng và nghiệp vụ chuyên môn, nhất là cán bộ quản lý nên phần nào ảnh hưởng đến các sản phẩm Du lịch. - Chưa có các cơ sở vui chơi giải trí, các khu Du lịch lớn. - Công tác tuyên truyền quảng bá hầu như không được triển khai, bó hẹp trong phạm vi tờ gấp tờ rơi với số lượng phát hành không đáng kể.
1.2. Về doanh thu Du lịch:
Doanh thu Du lịch bao gồm tất cả các khoản thu từ khách Du lịch như vận chuyển, lưu trú, ăn uống...Trong những năm qua doanh thu chưa được thống kê một cách đầy đủ bởi hoạt động kinh doanh phân tán, một số dịch vụ kinh doanh theo mùa vụ như các dịch vụ bán hàng tại các điểm Du lịch và từ các ngành khác được hưởng từ khách Du lịch như bưu chính viễn thông, thương mại hàng hoá...Do đó doanh thu Du lịch đã được phản ánh trong báo cáo thống kê chưa phản ánh đúng thực chất phát triển. Tuy nhiên doanh thu Du lịch Bắc Ninh chưa cao, chưa thực sự đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu chung củ
a tỉnh. Nguyên nhân chính là do các sản phẩm Du lịch tỉnh còn kém về hình thức,chất lượng, chưa có nét độc đáo hấp dẫn của vùng quê Kinh Bắc.
Bảng 4: Doanh thu và cơ cấu doanh thu Du lịch của Bắc Ninh Đơn vị : triệu đồng Doanh thu | 1997 | 1998 | 1999 | 2000 | 2001 | Ước 2002 | Tổng doanh thu | 16.500 | 17.154,90 | 19.719,75 | 21.938,33 | 25.434,96 | 28.000 | DT ăn uống | 9.887 | 13.379,70 | 14.464,40 | 14.564,03 | 18.807,87 | 19.000 | DT lưu trú | 850 | 616,30 | 873,70 | 1312,09 | 2.375,49 | 5.000 | DT V.chuyển khách |
| 17,50 | 140,20 | 393,08 | 859,85 | 1.500 | DT lữ hành | 500 | 280,90 | 448,55 | 386,82 | 241,09 | 500 | DT bán hàng hoá | 600 | 2.653,70 | 3.618,15 | 4.974,50 | 2.659,85 | 1.500 | DT khác | 250 | 206,80 | 174,65 | 307,87 | 490,87 | 500 |
1.3. Lao động trong ngành Du lịch:
Số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động trong ngành Du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng các dịch vụ Du lịch. Ngành Du lịch Bắc Ninh chưa phát triển nên lực lượng lao động còn rất mỏng đến nay mới có 420 lao động trực tiếp chủ yếu là lao động làm việc trong các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng... Lao động ngành Du lịch có trình độ chuyên môn rất thấp và hầu như không được đào tạo. Lao động trong các cơ sở lưu trú trình độ quản lý và nghiệp vụ chuyên môn rất yếu. Đặc biệt đội ngũ hướng dẫn viên vừa thiếu lại vừa yếu, cả tỉnh mới có 2 người được cấp thẻ từ những
năm trước, lực lượng hướng dẫn viên có trình độ đáp ứng yêu cầu kinh doanh ngang tầm xu thế chung hầu như không có. Nguyên nhân chính là các Doanh nghiệp chưa chú ý tới đào tạo, bồi dưỡng lao động do kinh phí hạn hẹp. Trong khi các cơ quan quản lý nhà nước chưa thực sự thể hiện rõ vai trò định hướng, giúp đỡ các doanh nghiệp bằng cách phối hợp với các trường nghiệp vụ mở lớp tại địa bàn, chưa có sự hỗ trợ về kinh phí đào tạo và bồi dưỡng cho lao động các doanh nghiệp, có chiến lược đào tạo kịp thời, trước mắt tập trung đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch.
Bảng 5 : Lao động trong ngành Du lịch tỉnh Bắc Ninh ( Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân và Hộ kinh doanh cơ sở lưu trú ). Lao động | ĐVT | 1998 | 1999 | 2000 | 2001 | Ước 2002 | Tổng số | Người | 120 | 320 | 370 | 420 | 450 | Đại học | Người | 10 | 19 | 25 | 34 | 35 | Cao đẳng và trung cấp | Người | 35 | 40 | 64 | 84 | 90 |
2. Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ Du lịch
2.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật Du lịch:
Cơ sở vật chất Du lịch giữ vai trò rất quan trọng trong qúa trình phát triển của ngành, bao gồm các hệ thống cơ sở lưu trú, ăn uống, các cơ sở vui chơi giải trí, thể thao, các cơ sở dịch vụ Du lịch và các phượng tiện vận chuyển khác. Trong những năm gần đây cùng với sự gia tăng của khách Du lịch và nhu cầu xã hội hệ thống các nhà nghỉ, nhà hàng tư nhân phát triển nhanh, tổng số vốn đầu tư đạt hơn 35 tỷ đồng phần nào đáp ứng nhu cầu ăn nghỉ của khách đến địa phương. Tuy nhiên các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng tư nhân phát triển tự phát không có qui hoạch dẫn đến tình trạng khó quản lýcó thể phá vỡ quy hoạch chung đây là vấn đề tồn tại cần được khắc phục . Nhịp độ xây dựng nhanh chóng các cơ sở lưu trú đã làm công xuất sử dụng buồng giảm,tuy vậy cũng phải thấy rằng cơ sở vật chất đã được nâng cao rõ rệt do nhu cầu khách ngày càng cao, một số khách sạn, nhà nghỉ có tiêu chuẩn khá cao theo qui định. Nhìn chúng hệ thống cơ sở lưu trú nhiều nhưng qui mô còn nhỏ số buồng đáp ứng yêu cầu của khách quốc tế còn hạn chế, điều này đặt ra cho Bắc Ninh khi phát triển loại hình lưu trú cần ưu tiên xây dựng các khách sạn đạt tiêu chuẩn sao, có định hướng hạn chế xây dựng các khách sạn, nhà nghỉ có chất lượng thấp. Theo số liệu khảo sát năm 2002 tổng số
khách sạn, nhà nghỉ trên địa bàn tỉnh gồm 54 cơ sở.
Bảng 6 : Các cơ sở lưu trúdu lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ( Tính đến 31.8.2002) Chỉ tiêu | Tổng số | Số phòng | Số giường | Khách sạn |
| 44 | 60 | Nhà nghỉ |
| 321 | 431 | Tổng số |
| 365 | 491 |
- Hệ thống cơ sở ăn uống đa dạng, hầu hết các nhà nghỉ đều có kinh doanh ăn uống. Các nhà hàng từ đặc sản đến bình dân luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu du khách. Tuy nhiên công tác quản lý vệ sinh thực phẩm vẫn chưa được quản lý có khoa học và hiệu quả. - Cơ sở vui chơi, giải trí thể thao còn nghèo nàn. Đó là nguyên nhân không lưu giữ được khách. Ngoài dịch vụ của công ty TNHH Đại Hoàng Long phần nào đáp ứng nhu cầu của khách Du lịch và nhân dân còn lại là những dịch vụ nhỏ như bể bơi công ty Du lịch, bể bơi 30/4, bể bơi Yên phong...Tổng mức đầu tư khu vực này rất hạn chế.Một số dự án đang được triển khai xây dựng như công viên cây xanh Nguyên Phi ỷ lan, Nhà thi đấu đa năng, sân vận động Suối Hoa đang được nâng cấp góp phần làm đa dạng hơn về loại hình, tuy nhiên về lâu dài các khu Du lịch, các khu vui chơi giải trí sẽ được quan tâm ưu tiên phát
triển. Đây là điều kiện để lưu giữ khách Du lịch và tăng doanh thu Du lịch . - Phương tiện vận chuyển khách Du lịch có chiều hướng ngày càng tăng. Hiện tại trên địa bàn có tổng số 6 doanh nghiệp tham gia kinh doanh vận chuyển khách ( 3 doanh nghiệp nhà nước). Tổng số vốn đầu tư cơ sở vật chất còn hạn chế đạt 7 tỷ đồng chủ yếu đầu tư xây dựng trụ sở, mua xe, chi phí đầu tư chiều sâu như quảng bá, thị trường, đào tạo lao động còn ít chiểm khoảng 12% tổng đầu tư. Số lượng xe gồm 18 chiếc ( Không kể xe Du lịch của các cá nhân kinh doanh đơn lẻ kết hợp vận chuyển khách thông thường).
2.2. Cơ sở hạ tầng:
Bắc Ninh là tỉnh có điều kiện giao thông tương đối thuận lợi với đường quốc lộ 1A (Chiều dài qua Bắc Ninh 19,8 km), quốc lộ 38(Chiều dài qua Bắc Ninh 23 km) và đường sắt xuyên việt, trong những năm gần đây hệ thống giao thông phát triển mạnh với các trục quốc lộ 1B (Chiều dài qua Bắc Ninh 19 km), đường cao Nhịp 18 và hàng loạt các đường giao thông nội tỉnh như tỉnh lộ 270, 271, 272, 280, 281...ngày càng được đầu tư nâng cấp, hệ thống giao thông nông thôn được tỉnh và nhân dân quan tâm đầu tư thực hiện với giá trị hàng trăm tỷ đồng. Cầu Hồ nối liền đôi
bờ sông Đuống là điều kiện thuận lợi để phát triển tuyến Du lịch phía nam của tỉnh. Hệ thống giao thông phát triển tạo thuận lợi cho việc đi đến các cảng biển, sân bay và cửa khẩu của du khách góp phần quan trọng, tạo động lực để Bắc Ninh trở thành nơihội tụ của du khách từ mọi nơi. Bên cạnh hệ thống giao thông đường bộ và đường sắt, còn hệ thống giao thông đường thuỷ của tỉnh Bắc Ninh cũng khá thuận lợi với hệ thống sông Đuống, sông Cầu , sông Thái bình?đó chính là điều kiện để giao lưu phát triển đồng thời để ngành Du lịch nói riêng có tiềm năng mở rộng, đa dạng loại hình Du lịch. Bắc Ninh có hệ thống lưới điện từ tỉnh về tới huyện được xây dựng từ lâu. Hệ thống lưới điện từ huyện về các xã và từ các xã về từng thôn xóm đã được xây dựng đáp ứng điện sinh hoạt cho nhân dân .Song thực trạng mạng lưới điện không đồng bộ cần có biện pháp đầu tưnâng cấp hoàn chỉnh theo qui hoạch của ngành điện mới đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt và phát triển của cả tỉnh. Hiện nay nhà máy nước có công xuất 20.000m3/ngày đêm mới chỉ cung cấp cục bộ tại thị xã Bắc Ninh. Một số dự án cũng đang được nghiên cứu và triển khai như trạm cấp nước Lương Tài, Đình Bảng...Nước dùng hiện tại chủ yếu khai thác bằng giếng khoan. Cùng với cả nước dịch vụ bưu chính viễn thông tỉnh Bắc Ninh cũng phát triển mạnh đảm bảo thông suốt thông tin liên lạc. Thông tin được khách sử dụng bằng nhiều kênh hữu tuyến và vô tuyến kể cả mạng Internet.
3. Thực trạng đầu tư trong du lịch.
Tổng số vốn đầu tư cho ngành du lịch đạt giá trị hơn 48 tỷ đồng tập trung chủ yếu vào cơ sở vật chất các cơ sở lưu trú du lịch ( Hơn 35 tỷ đồng ) các hoạt động vui chơi giải trí, vận chuyển khách vốn đầu tư thấp, các dự án lớn vẫn đang trong tình trạng đợi chờ vốn đầu tư. Cơ cấu đầu tư du lịch chủ yếu từ các hộ kinh doanh và vốn đầu tư tài sản cố định của các doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư phát triển chiều sâu như mở rộng loại hình, sản phẩm du lịch , đầu tư thị trường, tuyên truyền quảng bá còn rất hạn chế. Nguyên nhân chính của thực trạng trên là do việc huy động vốn đầu tưtừ các thành phần kinh tế còn chậm được triển khai. Trong khi năng lực đầu tư của các doanh nghiệp trên địa bàn còn hạn chế, vốn đầu tư cơ sở hạ tầng của nhà nước nhằm tạo tính hấp dẫn dự án, tạo điều kiện cho nhà đầu tư mạnh dạn bỏ vốn xây dựng công trình kinh doanh còn gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu do ngân sách tỉnh hạn hẹp trong khi cơ chế đầu tư hoặc sự hỗ trợ vốn cho du lịch từ ngân sách chưa thực sựđược đồng bộ thống nhất từ Trung ương đến địa phương
4. Hiện trạng tổ chức và quản lý các hoạt động kinh doanh Du lịch
Ngay sau khi tái lập, Tỉnh đã giao cho Sở Thương mại -Du lịch quản lý Nhà nước về Du lịch (một số tỉnh khác có Sở Du lịch riêng). Ban chỉ đaọ phát triển Du lịch tỉnh được thành lập theo Quyết định số 825/QĐ-CT ngày 22/9/1999, do đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban và đại diệnmột số ban ngành trong tỉnh làm uỷ viên. Các doanh nghiệp nhà nước thực hiện nhiệm vụ kinh doanh du lịchlà Công ty du lịch Bắc Ninh, Trung tâm lữ hành thuộc Công ty Xuất Nhập khẩu Bắc Ninh , nhà nghỉ Suối Hoa của Liên đoàn lao động tỉnh.
Đánh giá về hiện trạng du lich tỉnh Bắc Ninh: a. Những mặt làm được: - Nhận thức về Du lịch đã có chuyển biến, được nâng cao hơn một bước - Bộ máy quản lý Nhà nước về Du lịch được củng cố và tăng cường.Số lượng các đơn vị tham gia kinh doanh Du lịch ngày càng tăng. - Đã Tiến hành lập quy hoạch và phê duyệt các dự án chính như khu văn hoá Du lịch Đền Đầm, khu văn hoá Du lịch Phạt Tích, khu Du lịch văn hoá Quan họ Cổ Mễ, Trung tâm VH-TT Bắc Ninhđể tạo cơ sở gọi vốn đầu tư. UBND tỉnh có Quyết định số 107/2002/QĐ-UB về việc ban hành Quy định ưu đãi , khuyến khích đầu tư vào các khu Du lịch trên toàn địa bàn? - Các điều kiện phát triển Du lịch, các sản phẩm Du lịch từng bước được quan tâm đầu tư nâng cao chất lượng về giao thông, về cảnh quan môi trường. Các lễ hội được thường xuyên tổ chức, các cuộc thi quan họ được mở rộng. Kinh phí trùng tu, tôn tạo di tích được thực hiện với giá trị nhiều tỷ đồng. Các sản phẩm dịch vụ Du lịch cũng được các đơn vị tích cực xây dựng và thực hiện như các chương trình : ?Kinh Bắc Tour-Hè 1999? ?Kinh Bắc Tour-Hè 2000?, ?Du lịch cuối tuần?, Bắc Ninh Touris
m? . - Kết quả hoạt động có nhịp độ tăng trưởng khá với những chỉ tiêu cơ bản về lượng khách, doanh thu và ngày khách.
b. Những mặt chưa làm được |