Trên cơ sở thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội toàn tỉnh đến năm 2010 hướng phát triển Thương mại dịch vụ trên địa bàn là: ?xml:namespace> - Mở rộng thị trường thành thị và nông thôn đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống dân cư, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hoá đồng thời tác động đến việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng cường sản xuất, xuất khẩu phù hợp với yêu cầu thị trường trong nước và ngoài nước. - Nghiên cứu dự báo thị trường, tổ chức thông tin Thương mại, hướng dẫn sản xuất và tham gia giải quyết thị trường tiêu thụ cho sản phẩm hàng hóa trên địa bàn, hướng tập trung vào sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu hàng hoá do địa phương sản xuất. - Xây dựng một cấu trúc thị trường với nhiều thành phần kinh tế tham gia kinh doanh theo pháp luật làm cho thị trường phát triển lành mạnh từng bước tiến tới thị trường văn minh hiện đại. - Xác lập thể chế thị trường hợp lý tạo môi trường kinh doanh, ổn định tăng cường quản lý nhà nước về Thương mại dịch vụ tạo mối quan hệ hữu cơ giữa người sản xuất và người kinh doanh.
1. Kinh doanh nội địa Giữ nguyên mục tiêu đã quy hoạch năm 1998 nhịp độ tăng bình quân thời kỳ 2001-2010 là 15,3,năm 2010 đạt 6.200 tỷ đồng ; Thời kỳ 2001-2005 tăng bình quân 13,4 %, năm 2005 đạt 2.800 tỷ đồng, thời kỳ 2006-2010 tăng bình quân 17,2%, năm 2010 đạt 6.200 tỷ đồng. a. Quy hoạch phát triển Thương mại ở thị trường đô thị Bắc Ninh Theo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và các quy hoạch chuyên ngành thì tốc độ đô thị hóa sẽ tăng lên cùng với quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Theo các phương án tính toán năm 2000 dân nông thôn là 80%, dân thành thị là 20%, năm 2010 dân nông thôn là 70% và dân thành thị là 30%. Số tuyệt đối dân thành thị năm 2000 là 95.000 người và năm 2010 là 365.000 người. Với sự hình thành các đô thị như thị xã Bắc Ninh trở thành Thành phố loại 3 với dân số 15-20 nghìn dân tiêu thụ hàng hoávới nhu cầu hết sức đa dạng phong phú và là đầu mối giao lưu, hội tụ các điều kiện, các nhu cầu và khả năng khác nhau củ
a quá trình lưu thông hà ng hóa, đồng thời là nơi phát luồng có khả năng định hướng và điều tiết thị trường xã hội. Trong thời kỳ 1997-2000 thị trường đô thị Bắc Ninh đòi hỏi có một hệ thống tổ chức kinh doanh Thương mại đa dạngvới nhiều hình thức quy mô và phương thức kinh doanh khác nhau. Các công ty lớn chuyên doanh một số mặt hàng, nhóm hàng có nhiệm vụ chủ yếu là bán buôn phát luồng, mua bán tập trung hàng nông sản để bán buôn và xuất khẩu như các công ty : Công ty Nông sản, Xuất nhập khẩu, Xăng dầu, Than . Các Công ty lớn chuyên doanh, các công ty này cần có cán bộ quản lý và kinh doanh giỏi được trang bị phương tiện hiện đại phục vụ hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hệ thống thu nhận và xử lý thông tin liên kết chặt chẽ với các nhà sản xuất và tiêu thụ bằng môí quan hệ trực tiếp hoặc thông quacác đại lý để ổn định nguồn hàng, ổn định thị trường, cung ứng và tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu. Các Công ty này sẽ là tác nhân để phát triển sản xuất, nhất là các ngành sản xuất muĩ nhọn có nhiều lợi thếcủa tỉnh trong qúa trình công nghiệp hoá hiện đaị hoá -Trực thuộc các Công ty là hệ thống các cửa hàng kinh doanh tổng hợp (thuộc sở hữu Nhà nước hoặc cổ phần) ở thành phố, thị xã, thị trấn với các cửa hàng bán buôn, bán lẻvới phương thức phục vụ văn minh hiện đại, kết hợp với thương nghiệp tư nhân và màng lưới đại lý phân bổ rộng trên địa bàn, đáp ứng nhu cầu mọi mặt của nhân dân. - Từ năm 2002-2010 tại thị xã Bắc Ninh và thị trấn Từ Sơn sẽ xây dựng hai Trung tâm Thương mại cấp tỉnh. Các Trung tâm Thương mại này là đầu mối thưc hiện các họat động và xúc tiến Thương mại của tỉnh, có các siêu thị, cửa hàng bán buôn, bán lẻ các văn phòng đại diện là nơi cung cấp thông tintổ chức hội chợ triển lãm va các dịch vụ Thương mại khác... giữa các trung tâm Thương mại có quan hệ mật thiết cùng hợp tác, cạnh tranh trong việc cung cấp thông tin và thực hiệncác hoạt động Thương mại dịch vụ phục vụ sản xuất và đơì sống nhân dân. Dự kiến bước 1 đến năm 2005 xây dựng xong Trung tâm Thương mại Từ sơ
n , từ năm 2006-2010 x ây dựng TTTM thị xã Bắc Ninhvới diện tích vào khoảng10.000-15.000 m2 . Bước 2 sau 5 năm hoạt động sẽ được nâng cấp mở rộng với diện tích gấp đôi. Ước tổng kinh phí - Bước 1 : 65 tỷ đồng (5,9 triệu USD ) - Bước 2 : 108 tỷ đồng ( 9,8 Triệu USD). - Từ năm 2002 đến 2005 xây dựng hệ thống chợ thị xã, thị trấn 1. Chợ phường Suối Hoa - thị xã Bắc Ninhtrên đường Lê Văn Thịnh 6.000m22.500triệu đồng 2. Chợ Lim - Thị trấn Lim - Tiên Du,đất chợ cũ hoặc chuyển địa điểm 5.000m2 2.000 triệu đồng 3. Chợ Thị trấn Gia Bình -Huyện Gia Bình 6.000m2 1.500 triệu đồng 4. Chợ Chờ - Thị trấn Chờ , Huyện Yên Phong4.500m21.500 triệu đồng Chợ thị xã, thị trấn phân bố theo cụm dân cư, trên cơ sở các chợ đã có, củng cố và nâng cấp để đảm bảo văn minh thương nghiệp. Xây mới 4 chợ vớitổng diện tích đất là 21.500m2 và tổng kinh phí xây dựng là 7,5 tỷ đồng. - Hình thành một số đường phố bán chuyên doanh vật liệu xây dựng, vật liệu điện, điện tử, điện lạnh, may mặc, đồ gỗ... vừa là nơi nghiên cứu thăm dò thị trường, vừa là nơi phát luồng hàng hoá, phát triển phù hợp với quy hoạch đô thị, làm phong phú bộ mặt thị xã... - Một số ngành như Thương mại, nông nghiệp, khoa học môi trường và huyện, thị xã sớm phối hợp để tổ chức ở thị xã, thị trấn, huyện lỵ hệ thống giết mổ gia súc tập trung, đảm bảo vệ sinh môi trường và tổ chức kiểm định trước khi đưa ra lưu thông, đồng thời sản xuất và kinh doanh rau sạch tạo tiền đề cũng như thay đổi tập quán để đến năm 2005 có 30-50% và 2010 chủ yếu rau quả trên thị trường đảm bảo vệ sinh thực phẩm (rau sạch).
b. Quy hoạch phát triển Thương mại - Dịch vụ ở thị trường nông thôn Bắc Ninh Quy hoạch mạng lưới Thương mại ? dịch vụ trên địa bàn nông thôn là hoạt động rất quan trọng, có ý nghĩa rất lớn đối với việc thúc đẩy phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nhằm phục vụ nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quá trình đô thị hoá nông thôn của tỉnh và phục vụ đời sống nhân dân cả trước mắt và lâu dài. Trước mắt đảm bảo cho nông dân bán nông sản, mua vật tưsản xuất, hàng hoá tiêu dùng một cách thuận lợi, giá cả hợp lý, phù hợp với chính sách và cơ chế quản lý của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển nông thôn. Để đảm bảo yêu cầu trên, mô hình tổ chức kinh doanh Thương mạ
i trên địa bàn nông thô n phải gắn với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến và các loại hình dịch vụ khác. Mô hình đó là các cụm kinh doanh kinh tế Công nghiệp - Thương Mại đặt ở trung tâm huyện, đầu mối giao thông và gắn với chợ. Tham gia vào các cụm kinh tế này gồm tất cả các thành phần kinh tế bao gồm các cơ sở bán buôn, bán lẻ, thu mua, chế biến bao gói...Mỗi cụm kinh tế này có thể coi như một trung tâm Thương mại cấp huyện và lâu dài tuỳ theo dung lượng hàng hoá mà nâng lên thành những trung tâm lớn hơn. Đối với chợ nông thôn, nơi diễn ra việc trao đổi thường nhật của nông dân, chiếm tới 30-40% tổng mức hàng hoá bán lẻ trên toàn tỉnh, do đó việc xây dựng và quản lý tốt có tác dụng tích cực tới sản xuất và đời sống nhân dân. Hướng Quy hoạch là trên cơ sở các chợ đã được xây dựng và có lịch sử lâu đời cần nâng cấp, mở rộng phù hợp với lượng hàng hoá và tập quán tiêu dùng. Cần bố trí quỹ đất và kinh phí xây dựng để củng cố chợ ở các khu tập trung đông dân cư mới hình thành trong quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá. Thời kỳ 2000-2010, tiếp tục nâng cấp, tôn tạo 21 chợ và xây dựng 42 chợ với diện tích 75.0002 với số vốn 36,1 tỷ đồng. Đầu tư xây dựng chợ có thể thực hiện theo nguyên tắc Nhà nước và nhân dân cùng làm. Một phần vốn được huy động từ nguồn thu phí của chợ và một phần đóng góp của những người đang và sẽ kinh doanh trong chợ. Như vậy, nông dân sẽ trực tiếp mua bán tại các cụm kinh tế công nghiệp ? Thương mại tại các chợ, các HTX Thương mại, các hộ tư thương, hệ thống đại lý theo hai kênh vận động của hàng hoá.
Kênh 1: Cung ứng hàng hoá công nghiệp cho nông thôn bao gồm các dịch vụ cung ứng vật tư cho nông nghiệp (nông cụ, cây, con giống, phân bón, thuốc trừ sâu, dịch vụ bảo vệ thực vật..)máy móc, thiết bị, nguyên- nhiên ? vật liệu cho sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (Chủ yêú làcông nghiệp chế biến nông sản và hàng thủ công) vật liệu xây dựng và hàng hoá tiêu dùng...
Kênh 2: Tiêu thụ hàng hoá nông sản cho nông thôn kênh tiêu thụ các loại hàng hoá cho nông dân sản xuất ra ( các loại hàng nông sản, các sản phẩm của các xí nghiệp chế biến và sản xuất thủ công...).
2. Kinh doanh XNK 2.1. Xuất khẩu: Trong Quy hoạch 1998, việc xác định số liệu gốc và tốc độ tăng trưởng của các giai đoạn đến nay không còn phù hợp. Căn cứvào kết quả đã thực hiện từ năm 1998 đến 2001 của tỉnh và cả nước cũng như tình hình kinh tế thế giới tốc độ tăng trưởng chững lại. Nay đề nghị điều chỉnh mục tiêu xuất khẩu từ nay đến2010 theo hai phương án. Phương án 1: (phương án chọn) Nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân giai đoạn 2001-2005 là 10,4% thấp hơn nhịp độ tăng GDP bình quân của tỉnh, kim ngạch xuất khẩu đến năm 2005 đạt 60 triệuUSD trong đó địa phương đạt 23 Tr.USD, giai đoạn 2006-2010 phấn đấu nhịp độ tăng 14,9%/năm (Cao hơn mục tiêu chung của cả nước), năm 2010 đạt 120 triệu USD trong đó địa phương đạt 50 Tr.USD (Quy hoạch năm 1998 , mục tiêu đạt 154,7 triệu USD). Giai đoạn 2001-2010 tăng bình quân 12,6% Phương án 2: Phấn đấu nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân giai đoạn 2001-2005 là 13,9% cao hơn nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân của Tỉnh. Năm 2005 đạt 70 triệu USD trong đó địa phương đạt 25,5 Tr.USD, giai đoạn 2006 đến năm 2010 tăng bình quân là 17,2% ( cao hơn mục tiêu chung cả nước 3,2% ) năm 2010 đạt 155 triệu USD trong đó địa phương đạt 64 Tr.USD, (Quy hoạch năm 1998 đạt 225 triệu USD ) Giai đoạn 2001-2010 tăng bình quân 15,5%
Các phương án xuất khẩu Đơn vị : Triệu USD Chỉ tiêu | năm 2000 | Phương án 1 (phương án chọn) | Phương án 2 |
|
| 2005 | 2010 | 2005 | 2010 | Bắc Ninh (Địa bàn) | 36,55 | 60 | 120,0 | 70 | 155,0 | Trong đó : Địa phương | 18 | 23 | 50 | 25,5 | 64 | Hà Nội (Địa bàn) | 2803,3 |
| 21.092,4 |
| 21.092,4 | Cả nước | 18.000,0 |
| 154.700,0 |
| 154.700,0 | % so với Hà nội (Địa bàn) | 0,642 |
| 0,498 |
| 0,643 | % so với cả nước | 0,1 |
| 0,078 |
| 0,1 |
|
|
|
|
|
|
Để thực hiện được phương án chọn cần có giải pháp và chính sách thông thoáng để gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước, cần tận dụng tối đa lợi thế của tỉnh gần các trung tâm kinh tế để đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu do vậy : Đẩy mạnh hoạt động XNK là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh. Để thực hiện mục tiêu đó Bắc Ninh cần tập trung theo các hướng sau: - Mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước, đặc biệt là thị trường các nước Châu á - Thái Bình Dương và Cộng hoà liên bangNga. Đây là các thị trường có nhiều tiềm năng phát triển lâu dài đối với các sản phẩm hàng hóa của tỉnh. - Khuyến khích sản xuất, mở rộng các mặt hàng xuất khẩu dựa trên lợi thếvà tiềm năng của địa phương, đáp ứng nhu câù của thị trường Thế giới. Có chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, có hiệu quả kinh tế xã hội cao như hàng nông sản thực phẩm chế biến, hàng thủ công mỹ nghệ trên cơ sở tạo thị trường xuất khẩu ổn định, hình thành các vùng sản xuất tập trung các loại nông sản xuất khẩu để có những mặt hàng chủ lực của tỉnh. Trong đó chú trọng đến việc cải tạo giống, nâng cao chất lượng và năng suất, sản lượng vật nuôi, cây trồng đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Đầu tư vào công nghệ chế biến nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả xuất khẩu. Hiện nay trong tỷ trọng xuất khẩu của tỉnh, hàng thô và hàng sơ chế còn chiếm tỷ lệ cao. Hàng đã qua chế biến chỉ chiếm 18%. Phấn đấu đến năm 2005 hàng đã qua chế biến đạt 35%, năm 2010 đạt 70%. Theo hướng này cần thiết tập trung xây dựng một số xí nghiệp chế biến nông sản như chế biến thịt gia súc, gia cầm đông lạnh, xí nghiệp chế biến tinh dầu tỏi, chế biến cà chua, dưa đóng hộp, lọ ... và hiện đại hoá một số ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như đồ mộc, dệt, thêu, ren ... ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như đồ mộc, dệt, thêu, ren .... Đồng thời hướng đ
ầu tư vào ngành may x uất khẩu nhằm vừa giải quyết vấn đề lao động, vừa có kim ngạch xuất khẩu, có tích luỹ cho địa phương. - Khuyến khích vàtạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu trực tiếp. - Mở rộng mối quan hệ, liên doanh liên kết với các tỉnh trên các mặt nhằm tận dụng lợi thế mỗi địa phương trên mọi hình thức : uỷ thác hoặc nhận uỷ thác XNK, mua và bán hàng phục vụ xuất khẩu. 2.2. Nhập khẩu: Với các khoản ngoại tệ thu được do xuất khẩu cần quan tâm nhập khẩu các thiết bị dây truyền công nghệ tiến tiến phục vụ sản xuất của tỉnh nói chung và nhất là sản xuất hàng xuất khẩu như thiết bị may dệt, thiết bị chế biến nông lâm sản ... Nhập khẩu một số vật tư thiết yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, hoá chất, sắt thép ... và một phần hàng tiêu dùng cần thiết mà trong tỉnh, trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ tiêu dùng. Dự kiến kim ngạch nhập khẩu giai đoạn 2001-2005 nhịp độ tăng bình quân 14,4%/ năm gần bằng mục tiêu chung cả nước. Năm 2005 đạt 85 triệu USD trong đó địa phương đạt 42,5 Tr.USD,gia i đoạn 2006-2010 nhịp độ tăng bình quân 17,5%/ năm, năm 2010 đạt 190 triệu USD trong đó địa phương đạt 105 Tr.USD. Giai đoạn 2001-2010 nhịp độ tăng bình quân 15,9%.
|