QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

HUYỆN GIA BÌNH - Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Hướng ưu tiên trong phát triển kinh tế.

 

Gia Bình là huyện thành lập mới của tỉnh Bắc Ninh được tách ra trên cơ sở 13 xã thuộc huyện Gia Lương. Phía Bắc giáp huyện Quế Võ, phía Nam giáp huyện Lương Tài , phía Tây giáp huyện Thuận Thành và phía Đông giáp tỉnh Hải Dương.Tốc độ phát triển kinh tế tăng bình quân 8%/năm, kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân ở mức trung bình so với cả nước. Cơ cấu kinh tế gồm nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, trong đó nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo.


      ·        Diện tích: 107,53km2

·        Dân số 100,3 nghìn người

·        Đơn vị hành chính: 13 xã

·        Tốc độ tăng trưởng kinh tế: 8%/năm

·        Bình quân lương thực đầu người: 513 kg/người/năm

Phát huy những tiềm năng, thế mạnh sẵn có.

Nằm ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, huyện Gia Bình là vùng trọng điểm lúa, được thiên nhiên ưu đãi nhiều lợi thế, tiềm năng cho ngành nông nghiệp phát triển phong phú và đa dạng. Tổng diện tích đất tự nhiên là 107.53km2, trong đó diện tích đất canh tác là 5.889 ha ( Chiếm gần 55%), diện tích nuôi trồng thuỷ sản là 455 ha ( chiếm 4,2%). Khí hậu gió mùa vùng đồng bằng Bắc Bộ, lắm nắng, nhiều mưa. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25 oC. Lượng mưa bình quân 1.500mm/năm, tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 8.

Từ những tiềm năng sẵn có, trong 5 năm qua, dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp, cùng với những nỗ lực phấn đấu tích cực tham gia sản xuất của người dân, ngành nông nghiệp Gia Bình phát triển khá toàn diện và trở thành ngành kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế của huyện. Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2001 đạt 204,246 tỷ đồng, chiếm trên 80% GDP. Cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tăng năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi nhằm đảm bảo cho sự ổn định lương thực - thực phẩm, tăng sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Trong đó:

Về trồng trọt, cây lúa vẫn là cây lương thực chủ đạo phát triển cùng các loại cây màu như đậu tương, dưa? Thành tựi nổibật nhất trong 6 năm qua (1996 ? 2001) là giá trị sản xuất bình quân 1 ha canh tác tăng gấp 1,5 lân; năng suất lúa tăng gần 50%, tổng sản lượng lương thực tăng 42%, bình quân lương thực đầu người tăng 44%. Ngoài ra, một số cây lương thực và công nghiệp ngắn ngày cùng đạt được năng suất cao như: ngô 25 tạ/ ha, đậu tương 14,9 tạ/ha, lạc 16 tạ/ha, hành tỏi 83 tạ/ha?

Về chăn nuôi, đàn gia súc, gia cầm đạt tỷ lệ tăng trưởng cao, tỷ trọng chăn nuội năm 2001 chiếm 30,6% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp. Chương trình Sind hoá đàn bò, chăn nuôi trâu bò, chăn nuôi trâu bò kết hợp sức kéo và lấy thịt; chăn nuôi gia súc, gia cầm theo phương pháp công nghiệp; môt hình trông cây ? nuôi cá ? chăn nuôi (VAC) được mở rộng ở các xã Nhân Thắng, Quỳnh Phú, Xuân Lai, Bình Dương đã góp phần tăng thu nhập và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.

Về thuỷ sản, đây là lĩnh vực đang ngày càng phát triển. Diện tích nuôi thả cá năm 2001 đạt 44 ha. Sản lượng cá thiệt toàn huyện đạt 1.600 tấn, tăng 800 tấn so với năm 1996. Hiện chương trình nuôi cá chim trắng và tôm càng xanh đang là thế mạnh của huyện và bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cao. Năm 2001 đã có 10ha đồng trũng dành cho nuôi trồng những loại thuỷ sản này. 

 

Tăng trư­ởng nông nghiệp huyện Gia Bình

Nguồn: Huyện Gia Bình

Lĩnh vực

ÐVT

Năm 2001

% so với 1996

1. Trồng trọt

  • Diện tích gieo trồng
  • Tổng sản lư­ợng lư­ơng thực (qui thóc)
  • Năng suất

2. Chăn nuôi

  • Trâu
  • Lợn

3. Thuỷ sản

  • Tổng diện tích nuôi trồng
  • Diện tích đã cho sản phẩm
  • Sản l­ượng

 

(ha)
(tấn)
tạ/ha

 

(con)
"
"
"

 

ha
"
tấn

 

12.074
48.778
51,1

 

6.411
829
39.743




649
445
1.600

 

97,2
142
146

 

103,7
50,6
111,4

 Kết quả hoạt động của các ngành kinh tế - xã hội khác

Cùng với sự phát triển ngành nông nghiệp, CN ? TTCN cũng có mức tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất năm 2001 ước đạt 30,5 tỷ đồng, tăng 90,6% so với năm 1996; trong đó tập trung vào một số sản phẩm truyền thống như đúc đồng, nhôm ở Đại Bái; sửa chữa cơ khi tại Nhân Thắng; VNXD ở Cao Đức; chế biến gỗ ở Quỳnh Phú. Các làng nghề truyền thống được giữ vững và mở rộng, nhiều sản phẩm đã tham gia thị trường trong nước và quốc tế.

Để hỗ trợ các ngành kinh tế phát triển, huyện Gia Bình đã tiến hành đổi mới hoạt động của ngân hàng và tín dụng đầu tư như: chủ động huy động các nguồn vốn có lãi suất thấp thuộc các dự án của ngân hàng nước ngoài  (vốn tín dụng nông thôn ADB, vốn tài chính nông thôn WB?). Những thay đổi này đã đáp ứng cơ bản về huy động vốn, cho vay vốn và nhu cầu tiền mặt phục vụ sản xuất và đời sống. Chương trình xoá đói giảm nghèo được đẩy mạnh bằng việc phát động nhân dân thực hiện phong trào giúp nhau về giống, vốn, kinh nghiệm sản xuất. Trong năm 2001 có 5.981 lượt hộ được vay với tổng vốn 16,3 tỷ đồng. Nhờ vậy, tỷ lệ đói nghèo năm 2001 giảm xuống còn 13,6%.

Đồng thời, trong 5 năm qua (1996 ?2000), Gia Bình đã đầu tư 13,8 tỷ đồng cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng như trường học, trạm xá, công sở. Riêng năm 2001, tổng kinh phí đầu tư (cả giao thông nông thôn) đạt 18,2 tỷ đồng. Phong trào làm đường giao thông nông thôn phát triển mạnh mẽ, hoàn thành quyết toán, cải tạo và nâng cấp các tuyến đường giao thông nông thôn, tuyến đường tỉnh lộ và huyện lộ, khảo sát thiết kế lấp dự toán hỗ trợ kinh phí các đường liên xã. Đến hết năm 2001, tuyến đường tỉnh lộ đã rải nhựa là 225km, đường giao thông nông thôn được lát gạch, rải bê tông và nhựa hoá là 10,7km. Hệ thống thông tin liên lạc được nâng cấp với việc hoàn thành tổng đài Ngụ. Toàn huyện hiện có 1.550 máy đ iện thoại, đạt 1,5 máy/100 dân.

Giáo dục ? đào tạo cũng có nhiều tiến bộ hơn hẳn so với những năm trước đây thể hiện ở tỷ lệ tốt nghiệp các bậc học đạt cao. Năm 2000, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học đạt 99%, trung học cơ sở 98,2% và trung học phổ thông từ 93 ? 95%. Đây cũng là năm huyện Gia Bình hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ tuổi. Huyện phấn đấu đến năm 2005 có 13 trường tiều học và 50% trường THCS đạt chuẩn quốc gia. Mạng lưới y tế cơ sở hoạt động tốt, đảm bảo duy trì công tác khám, chữa bệnh thường xuyên và thực hiện tốt công tác chương trình y tế quốc gia.

Định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 ? 2005

Để đảm bảo sự phát triển bền vững, phát huy những tiềm năng sẵn có, từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp ? xây dựng cơ bản và dịch vụ, giảm tỷ trong nông nghiệp. Trong giai đoạn 2001 ? 2005, huyện Gia Bình đã đề ra một số định hướng phát triển kinh tế - xã hội cơ bản sau:

Về nông nghiệp, trên cơ sở bảo đảm an toàn, vững chắc về lương thực - thực phẩm, mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và từng bước chuyển nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá. Tăng diện tích nuôi thả cá, khai thác thế mạnh đất bãi vên đê, đẩy nhanh phát triển chăn nuôi đại gia súc. Đồng thời, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho nông nghiệp, coi trọng khâu thuỷ lợi và giống; nhất là giống lúa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ, sản xuất giống lúa nguyên chủng tại đại phương. Làm tốt công tác khuyến nông, nâng cao chất lượng hoạt động của các đơn vị dịch vụ sản xu ất nông nghiệp. Phấn đấu đến năm 2005, hình thành các v ùng chuyên canh lúa, màu và nuôi trồ ng thuỷ sản ở các xã Nhân Thắng, Bình Dương, Xuân Lai, Quỳnh Phú hay thâm canh lứa có năng suất cao dành cho xuất khẩu ở Vạn Ninh, Cao Đức, Thái Bảo, Đại Lai và Giang Sơn.

Đồng thời, tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư, củng cố và phát triển tiểu thủ công nghiệp; tiếp tục khai thác tốt thế mạnh để phát triển sản xuất các mặt hàng thế mạnh như đúc đồng, đúc nhôm, mây tre đan, thêu ren, chế biến lương thực = thực phẩm, sản xuất gạch chỉ và khai thác cát ven sông phục vụ xây dựng. Phấn đấu hoàn thành việc hình thành cụm CN ? TTCN Đại Bái vào năm 2005, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của các ngành nghề này.

Ngoài ra, huyện Gia Bình còn có kế hoạch tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng, tích cực tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, phát triển văn hoá ? xã hội, xây dựng chiến lược con người phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Mục tiêu phấn đấu đến năm 2005.

-         Tăng trưởng kinh tế bình quân 8,85%/năm

-         Tổng sản lượng lương thực đạt: 55.000 tấn

-         Giá trị tổng sản lượng TTCN tăng bình quân: 5,5 ? 6%/năm

-         Bình quân lương thực: 530kg/người/năm

-         Thu nhập bình quân: 3.7 triệu đồng/người/năm

-         Giảm hộ nghèo xuống còn: 5%.



Bacninh Portal - Cổng giao tiếp điện tử Bắc Ninh - Giai đoạn 3 (Phiên bản đang tiếp tục xây dựng)
© Bản quyền thuộc UBND tỉnh Bắc Ninh. Trung tâm Tin học - UBND Bắc Ninh quản lý.
3C Soft - 3C Inc,. (Hiển thị tốt nhất ở chế độ màn hình 800 x 600)