QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

HUYỆN QUẾ VÕ - Nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngành kinh tế mũi nhọn.

 

 

 

 

 

 

 

Chủ tịch UBND huyện Quế Võ

Quế võ là huyện nông nghiệp, nằm ở cửa ngõ phía bắc thủ đô Hà Nội. Với diện tích đất tự nhiên rộng 170,74 km2, được bao bọc bởi 3 con sông đã tạo cho Quế Võ những lợi thế trong phát triển nông nghiệp. Hơn nữa, Quế Võ còn là một miền đất giàu truyền thống văn hiến, khoa cử với những sắc thái riêng đã tạo nên những nét văn hoá truyền thống của vùng Kinh Bắc đại linh nhân kiệt xưa kia.


Con người Quế Võ cần cù chịu khó, khéo léo trong sản xuất. Vì thế, dưới đôi bàn tay tài hoa của người dân Quế Võ, nhiều sản phẩm truyền thống như: sành sứ và gốm mỹ nghệ Phù Lăng, mộc dân dụng đã trở nên nổi tiếng và được nhiều người biết đến. Đây chính là nguồn sức mạnh tiềm ẩn giúp cho người dân Quế Võ đạt được nhiều thành tích trong phát triển kinh tế - xã hội.

  • Diện tích tự nhiên: 170,74 km2
  • Dân số: trên 150 nghìn người.
  • Đơn vị hành chính: có 23 xã và 1 thị trấn
  • Tốc độ tăng trưởng kinh tế: 12%/năm.
  • Lương thực bình quân: 611kg/người/năm

Thành công từ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

 Trong những năm qua, cùng với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ (10,5%/năm), cơ cấu kinh tế huyện Quế Võ nói chung, cơ cấu sản xuất nông nghiệp nói riêng đã có những chuyển biến tích cực. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng toàn diện, đa dạng hoá sản phẩm và từng bước gắn với nhu cầu của thị trường. Trong nành trồng trọt, cơ cấu giống cây trông được thay đổi mạnh mẽ. Các giống lúa cũ, thoái hoá được thay thế bắng các giống lúa có năng suất cao như: Khang Dân, Q5, DV108, Xi23?Cơ cấu trà vụ cũng được bố trí hợp lý hơn; việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào việc chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh được chú trọng. Do vậy, đến hết năm 2001, năng suấ t lúa bình quân tăng gần 50%, sản lư ợng lươn g thực quy thóc tăng 48,6%, bình quân lương thực tăng 1,6 lần so với năm 1996. Nhiều đại phương đã hình thành vùng sản xuất lúa giống và lúa hàng hoá như Mộ Đạo, Cách Bi, Việt Hùng? sản xuất lúa Tám Thơm ở Quế Võ (Chi Lăng)? Ngoài sản xuất lúa, ở nhiều cơ sở đã đưa những cây có giá trị kinh tế cao vào sản xuất như: trồng dưa chuột xuất khẩu ở Việt Hùng, Phượng Mao, Phương Liễu, Bằng An; cây cà chua ở Hàn Quảng, Phương Liễu; cây ớt xuất khẩu ở Mộ Đạo, Phương Liễu; khoai tây ở Việt Hùng, Quế Tân.

Cùng với sự lớn mạnh của ngành trồng trọt, chăn nuôi cũng từng bước phát triển. Trong năm 2001, đàn bò có 11,92 nghìn con, tăng 4%; đàn lợn có 72,3 nghìn con, tăng 1% so với năm 2000. Đặc biệt, chương trình nuôi bò lai Sind ở Đào Viên, Chi Lăng; lợn hướng nạc ở Nhân Hoà, Việt Thống, Việt Hùng, Quế Tân đang được đẩy mạnh và nhân rộng. Phong trào nuôi cá giống, cá thịt, ngan Pháp, vịt siêu trứng tiếp tục được mở rộng. Nhiều hộ gia đình đã đầu tư chăn nuôi, cải tạo ruộng trũng để thả cá đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Chương trình trồng rừng theo dự án 327 được duy trì đều đặn qua từng năm, nâng tổng diện tích che phủ rừng toàn huyện lên gần 350ha. Nhiều mô hình vườn đồi và hộ làm kinh tế giỏi xuất hiện ở Văn Dương, Nam Sơn, Châu Phong, và Phù Lăng. Tuy nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Quế Võ còn chậm, chưa phát huy hết tiềm năng đất đai, lao động, một bộ phận cán bộ nhân dân còn giữ nếp nghĩ, cách làm cũ. Đây chính là những lực cản, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Quế Võ

Tăng tr­ưởng nông nghiệp huyện Quế Võ

(Nguồn: Huyện Quế Võ)

 Lĩnh vực

1997

1998

1999

2000

2001

1. Trồng trọt

 - Tổng diện tích gieo trồng (ha)

 + Trong đó, diện tích lúa (ha)

 - Năng suất lúa (tạ/ha)

 - Tổng sản lư­ợng lư­ơng thực quy thóc (tấn)

2. Chăn nuôi (con)

 - Ðàn bò

 - Ðàn trâu

 - Ðàn lợn

 

19.790

15.588

37,2

66.576

 

11.000

6.000

55.000

 

20.032

16.014

41,7

70.815

 

10.553

5.727

66.843

 

20.284

16.315

45,7

74.629

 

10.979

5.766

68.848

 

21.190

16.967

51,8

87.917

 

11.222

5.708

70.900

 

20.640

17.334

52,5

91.725

 

11.920

5.700

72.300

Khu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế.

Với thế mạnh là sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến gỗ và sản xuất đồ mộc, chế biến hàng lương thực - thực phẩm, CN ? TTCN Quế Võ trong những năm qua vẫn được duy trì và phát triển. Giá trị sản lượng giai đoạn 1996 ? 2000 tăng bình quân 15,5%/năm. Riêng năm 2001 đạt 37,07 tỷ đồng, tăng 17,4% so với năm 2000. Trong đó khu vực hợp tác xã đạt 484 triệu đồng, hộ cá thể 36,191 tỷ đồng và doanh nghiệp hỗn hợp là 215 triệu đồng. Nhằm phát huy thế mạnh từ những sản phẩm truyền thống, huyện Quế Võ đã và đang tiến hành quy hoạch và xây dựng 4 cụm tiểu thủ công nghiệp là Phố Mới, Bông Lai, Đông Du và Đội Xuân với mục đích đưa các ngành nghề này đi vào hoạt động tập trung và hướng tới sản xuất hàng hoá.< ; ; ; o:p>

Cùng với việc quy hoạch các làng nghề thành những cụm tiểu thủ công nghiệp, được Bộ Xây dựng phê duyệt, KCN Quế Võ đã hình thành vào tháng 7 ? 2001 và đến nay thu hút được 14 nhà đầu tư đăng ký hoạt động. Trong đó có 3 dự án đầu tư nước ngoài là Kính nổi Việt Nhật, Nhà máy Lắp ráp Xe máy Piaggo và Nhà máy Phân vi sinh của Trung Quốc. Có thể nói, việc hình thành các cụm tiểu thủ công nghiệp và khu công nghiệp đã tạo cho kinh tế Quế Võ một nhân tố mới cho sự phát triển nhanh mạnh trong thời gian tới.

Kết quả hoạt động của các ngành kinh tế khác

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế phát triển, cơ sở hạ tầng đang từng bước được củng  cố và tăng cường. Hệ thống giao thông nông thôn với 500km đường liên xã, liên thôn ? xóm đã được hoàn thành. Mạng lưới bưu điện ,  thông tin liên lạc có những bước phát triển rộng khắp và đa dạng về loại hình dịch vụ. Hiện toàn huyện Quế Võ có 23/24 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá xã, bình quân 100 người dân có 2 máy điện thoại.

Hoà nhịp với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng, kho bạc đã đáp ứng yêu cầu lưu thông tiền tệ, phục vụ phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo. Các hộ vay vốn sản xuất kinh doanh đều đạt hiệu quả cao. Tổng dư nợ tín dụng quá hạn năm 2001 là 43 triệu đồng, trong đó có 34 triệu đồng dành cho 7.580 hộ vay để kinh doanh và phát triển sản xuất, góp phần tích cực trong chương trình xoá đói, giảm nghèo. Thương mại - dịch vụ phát triển đa dạng với nhiều thành phần tham gia, thị trường mở rộng đến các thôn, xã trong huyện. Tổng mức bán lẻ năm 2001 đạt 85 tỷ đồng, trong đó ngoài quốc doanh chiếm 80%.

Công tác giáo dục ? đào tạo cũng đạt được những tiến bộ đáng kể với quy mô các cấp học, ngành học được mở rộng. Chất lượng giáo dục ? đào tạo được nâng lên. Số học sinh tốt nghiệp tiểu học hàng năm đạt 99%, trung học cơ sở 98%, trung học phổ thông 96,6%. Số giáo viên dạy giỏi và học sinh giỏi tăng đáng kể. Hoạt động văn hoá được duy trì. Thể dục - thể thao quần chúng phát triển mạnh và đạt thành tích cao tại các giải của tỉnh ở những môn như: vật, việt dã, bóng chuyền, cầu lông.

Nhằm phát huy những thành tích đã đạt được trong những năm qua, huyện Quế Võ đã đề ra phương hướng phát triển kinh tế xã hội đến năm 2005 với một số chỉ tiêu quan trọng. Theo đó, nhịp độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 12 ? 14%/năm, đảm bảo an toàn về lương thực và từng bước chuyển diện tích cây lương thực sang trồng lúa hàng hoá. Cơ cấu các thành phần kinh tế được chuyển dịch theo hướng nông nghiệp 50 ?55 %, công nghiệp và TTCN 22% và thương mại 24%.



Bacninh Portal - Cổng giao tiếp điện tử Bắc Ninh - Giai đoạn 3 (Phiên bản đang tiếp tục xây dựng)
© Bản quyền thuộc UBND tỉnh Bắc Ninh. Trung tâm Tin học - UBND Bắc Ninh quản lý.
3C Soft - 3C Inc,. (Hiển thị tốt nhất ở chế độ màn hình 800 x 600)