QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

HUYỆN YÊN PHONG - Nông nghiệp phát triển toàn diện. Các lĩnh vực khác đạt nhiều thành công

 

Yên Phong là một huyện nông nghiệp thuộc vùng Đồng bằng Bắc Bộ, cách thị xã Bắc Ninh 13km về phía Đông. Đời sống kinh tế - xã hội ở mức trung bình, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 8,6%/năm.


Trong quá trình đổi mới phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, cơ cấu kinh tế huyện Yên Phong đang có bước chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng - dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp.

  • Diện tích: 112,54 km2
  • Dân số: trên 141,7 nghìn người
  • Đơn vị hành chính: 1 thị trấn và 17 xã
  • Tốc độ tăng trưởng kinh kế: 8,6%/năm
  • Bình quân lương thực: 515kg/người/năm

 Nông nghiệp – ngành kinh tế mũi nhọn và đang phát triển với nhịp độ cao.

            Có thể nói, trong 6 năm qua (1996 – 2001), nông nghiệp luôn là ngành kinh tế mũi nhọn và là niềm tự hoà trong phát triển kinh tế huyện Yên Phong. Giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 64,5% GDP. Trong khi ở nhiều huyện của tỉnh Bắc Ninh và nhiều địa phương khác trong cả nước thường có sự mất cân đối, thậm chí là nghiêm trọng, thì ở Yên Phong cơ cấu ngành nông nghiệp phát triển khá toàn diện với tỷ trọng trồng trọt – chăn nuôi - dịch vụ lần lượt là 41,7% - 53,6% - 4,7%. Giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác đạt 26,3 triệu đồng, tăng 1,3 triệu đồng so với năm 2000.

            Về trồng trọt, Yên Phong đã thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, giống và áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đảm bảo các dịch vụ nông nghiệp. Khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai, tiền vốn và sức lao động. Chính vì thế, trong 5 năm 1996 – 2000, diện tích gieo trồng tăng bình quân 7,1%; năng suất bình quân tăng 26,4%; sản lượng lương thực tăng 43,3% so với thời kỳ 1991 –1995. Hệ số sử dụng đất năm 2000 là 2,31 ( so với 2,1 lần năm 1996). Riêng năm 2001, sản lượng lương thực đạt 71.303 tấn; năng suất đạt 52,2 tạ/h a, tăng 1,4 tạ so với năm 2000.

            Đồng thời, huyện Yên Phong cũng đang thực hiện quy hoạch vùng sản xuất hàng hoá như: vùng sản xuất trồng rau sạch, rau cao cấp tại các xã Yên Trung, Trung Nghĩa, Tam Đa, Khúc Xuyên, thị trấn Chờ. Do hiệu quả kinh tế của cây hoa hồng hơn hẳn các cây trồng khác ( gấp 15 lần trồng lúa) nên Yên Phong đang tích cực mở rộng diện tích trồng hoa tại các xã Hoà Tiến, thị trấn Chờ, Đồng Phong, Vạn An với trên 50 ha. Nghề trồng dâu nuôi tằm những năm gần đây cũng mạng lại hiệu quả kinh tế cao.Vì thế, trong năm 2001 – 2002, huyện sẽ trồng 60 ha dâu ở các xã ven sông Cầu, sông Cà Lồ để đến năm 2003 – 2004 sản lượng dâu đạt 13.000 tấn, trị giá 1,3 tỷ đồng.

 

Tăng tr­ưởng nông nghiệp huyện Yên Phong

Lĩnh vực

ÐVT

Năm 2001

% (so với 96)

Trồng trọt

 

 

 

   Diện tích gieo trồng

(ha)

16.640

6,2

   Tổng SL l­ương thực qui thóc

(tấn)

71.303

35

   Tổng giá trị

(tỷ đồng)

190

39

Chăn nuôi - thuỷ sản

 

 

 

   Bò

(con)

7.900

44

   Trâu

(con)

4.800

(-) 7

   Lợn

(con)

62.000

44

   Tổng giá trị

(tỷ đồng)

244

108

   Sản l­ượng cá

(tấn)

2.114

 

(Nguồn: Huyện Yên Phong)

 

            Trong chăn nuôi, Yên Phong tập trung chỉ đạo phát triển theo hướng toàn diện, đa dạng hoá các loại hình chăn nuôi, đưa các giống gia súc, gia cầm và cá giống mới có giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Xây dựng mô hình chăn nuôi theo từng hộ gia đình, từng trang trại nhỏ như nuôi gà ở Hoà Tiến , Yên Phụ; nuôi ngan tại Đông Thọ, Văn Môn; nuôi ba ba, nuôi lợn ở Hoà Long. Chương trình nuôi giống cá mới tiếp tục phát triển. Hiện chăn nuôi đống góp 53,6% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp.

Các chỉ số tăng trưởng của các ngành kinh tế - xã hội khác.

            Sản xuất CN – TTCN trong 6 năm qua có bước tăng trưởng khá. Giá trị sản lượng năm 2001 đạt 108 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 7.500 lao động. Có được kết quả trên là do Yên Phong đã tích cực xây dựng và triển khai thực hiện đề án khôi phục, phát triển ngành nghề truyền thống như đúc đồng- nhôm, sản xuất giấy dó, tơ tằm; đồng thời đưa một số nghề mới vào địa phương. Ngoài ra, huyện cũng đang triển khai đề án xây dựng cụm công nghiệp tập trung ở Phong Khê, Văn Môn, Tam Đa và đề án đưa cơ giới hoá để chuyển dần từ lao động thủ công sang một phần sử dụng máy móc. Các doanh nghiệp được chuyển đổ i và thành lập mới theo Luậ t Doanh nghiệp và Luật Hợp tác xã, hoạt động hiệu quả hơn. Đến nay, toàn huyện có 35 HTX, 23 DNTN, 13 công ty TNHH hoạt động trong ngành CN – TTCN.

            Với tinh thần phát huy nội lực, tranh thủ mọi nguồn lực bên ngoài, trong 5 năm ( 1996 – 2000), tổng kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là 101,38 tỷ đồng, gấp 3 lần so với thời kỳ 1991 – 1995. Đến nay, đường tỉnh đã nhựa hoá 100%, số điện thoại đã lắp đặt 2.831 máy, gấp 6,6 lần năm 1996, bình quân gần 20 máy/1.000 dân.

            Hoạt động ngân hàng tín dụng đã có nhiều cố gắng trong việc huy động các nguồn vốn phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Trong năm 2001, ngân hàng nông nghiệp đã cho 5.500 lượt hộ vay với số tiền 83 tỷ đồng; ngân hàng phục vụ người nghèo đã cho 2.700 lượt hộ vay với số tiền 6 tỷ đồng. Thị trường nông thôn được mở rộng, hàng hoá đa dạng, phong phú. Các hoạt động dịch vụ về nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông - vận tải, xây dựng, chế biến ngày càng phát triển, góp phần tạo ra sự thay đổi tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực.

            Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế, văn hoá – xã hội cùng thu được nhiều kết quả khả quan. Chất lượng giáo dục được nâng lên, số học sinh giỏi, học sinh thi đỗ đại học, cao đẳng ngày càng tăng. Năm học 2000 – 2001, huyện có 11 xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn phổ cập THCS. Cơ sở vật chất và trang thiết bị trong trường học được tăng cường 52% số phòng học kiên cố. Đời sống vật chất – tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Toàn huyện có 13 thư viện thôn với 6.500 đầu sách, 18 trạm bưu điện văn hoá xã; 88% hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dư ới 5 tuổi còn khoảng 29%.

Định hướng phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2005

            Nhằm phát huy những thành quả đã đạt được, Đảng bộ và chính quyền huyện Yên Phong xác định: lãnh đạo phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm. Tập trung mọi nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH – HĐH, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ.

            Trong nông nghiệp, tích cực khai thác mọi tiềm năng đất đai, lao động, tiền vốn để phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá. Thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, vật nuôi nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế. Tập trung thâm canh tạot hành vùng lúa cao sản, quy vùng sản xuất giống lúa và sản xuất lúa hàng hoá chất lượng cao. Đồng thời, khôi phục và phát triển một số cây công nghiệp truyền thống như: lạc, dấu, đậu tương và các cây màu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến và nhu cầu xuất khẩu. Đồng thời, tiếp tục thực hiện phát động phong trào cả i toạ vườn tạp đưa những cây có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, đẩy mạnh chương trinh Sind hoá đàn bò, nạc hoá đàn lợn.

            Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, huyện có chủ trương tiếp tục thực hiện đề án khôi phục và phát triển ngành nghề truyền thống, đưa nghề mới vào địa phương. Củng cố và phát triển cáclàng nghề theo hương đầu tư theo chiều sâu, mở rộng quy mô và đổi mới kỹ thuật công nghệ. Đa dạng hoá ngành nghề, sản phẩm, gắn sản xuất kinh doanh với bảo vệ môi trường. Xây dựng và thực hiện quy hoạch các cụm công nghiệp tập trung để đến năm 2003 hoàn thành việc xây dựng cụm công nghiệp tập trung để đến năm 2003 hoàn thành việc xây dựng cụm công nghiệp gi ấy ở Phong Khê và Văn Môn. Triển khai q uy hoạch, xây dựng 2-3 cụm công nghiệp vừa và nhỏ đa nghề mới.

            Để hoàn thành thắng lợi mục tiêu đề ra, Huyện Uỷ, UBND huyện Yên Phong sẽ ban hành nhiều  biện pháp tích cực nhằm đẩy mạnh hoạt động của ngành ngân hàng, củng cố thương nghiệp quốc doanh, mở rộngthị trường nông thôn, nâng cấp cơ sở hạ tầng. Đồng thời, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế và các lĩnh vực xã hội khác để góp phần đưa Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2015.

Tăng trưởng nông nghiệp huyện Yên Phong

Mục tiêu phấn đấu đến năm 2005

-         Tăng trưởng GDP:9-10%/năm

-         Tổng sản lượng lương thực: 80.400 tấn.

-         Lương thực bình quân : 540 kg/người/năm.

-         Thu nhập bình quân: 3,5 triệu đồng/người/năm

-         Xoá hộ đói, giảm hộ nghèo xuống con 5%



Bacninh Portal - Cổng giao tiếp điện tử Bắc Ninh - Giai đoạn 3 (Phiên bản đang tiếp tục xây dựng)
© Bản quyền thuộc UBND tỉnh Bắc Ninh. Trung tâm Tin học - UBND Bắc Ninh quản lý.
3C Soft - 3C Inc,. (Hiển thị tốt nhất ở chế độ màn hình 800 x 600)