| Làng quê ấy nổi tiếng lắm và dường như càng ngày càng nổi tiếng hơn trong thời kinh tế thị trường với một nghề truyền thống từ xa xưa nay vẫn tiếp tục tỏa sáng với một tinh thần lao động miệt mài và sáng tạo. Đó là làng Đa Hội, xã Châu Khê, huyện Từ Sơn. Từ Sơn - xứ Đông Ngàn xưa là vùng đất trăm nghề mà nghề nào cũng nổi tiếng như nghề mộc ở Hương Mạc, Phù Khê, nghề dệt ở Tương Giang, Nội Duệ, nghề đúc ở Văn Môn. Câu chuyện làng nghề đã gắn với những truyền thuyết ly kỳ, gắn với lịch sử của một vùng đất giầu truyền thống đánh giặc, xây dựng quê hương.
Nghề sắt ở Đa Hội xã Châu Khê có lẽ có từ rất sớm, truyền rằng Quận công Trần Đức Huệ sinh năm ất Mùi (1515) trong một gia đình có nguồn gốc ở trấn Sơn Nam chuyên nghề rèn sắt. Thuở nhỏ ông có tên là Sói khi lớn lên đổi thành Trần Đức Hụê. Ông là một người khỏe mạnh cường tráng vốn là một võ tướng của triều Lê Mạc thế kỷ 16 đã được vua thăng “Thượng trụ quốc thái bảo dương Quận công” năm 1599 quận công Trần Đức Huệ về hưu trí tại quê là làng Chính Đáp, tại đây ông mở lò rèn và truyền nghề cho dân thôn. Trần Đức Huệ được coi là ông tổ nghề sắt của làng Đa Hội.
Như vậy có thể nói nghề sắt ở Đa Hội đã có từ cách đây hơn 400 năm. Trải qua bao biến động của lịch sử, từ chỗ chỉ có vài hộ làm nghề rèn dao kéo, cày cuốc, liềm hái, cho đến khi chuyển sang nghề đúc rồi cán kéo thép xây dựng, hiện nay làng Đa Hội đã có cả một khu công nghiệp với vài trăm hộ sản xuất thép xây dựng, lúc đầu là nấu thép phế liệu, thượng vàng hạ cám đều được đúc, cán kéo thành sắt thương phẩm. Từ một làng nghề thủ công, Đa Hội trở thành một trung tâm sản xuất sắt thép có công suất 350.000 tấn mỗi năm, tương đương với công xuất của cả khu gang thép Thái Nguyên.
Đa Hội có một nhịp sống riêng, nhịp sống ấy bắt đầu được khởi động từ lúc 10 giờ hàng đêm, khi những chiếc xe tải, xe công nông, xe thồ không còn xuôi ngược trên đường, sự sôi sục của làng Đa Hội cũng như tạm lắng xuống. Ngược lại với không khí yên ắng trong làng thì tại khu công nghiệp từ 10 giờ đêm trở đi, khoảng 100 lò đúc thép bắt đầu đỏ lửa vì đây là lúc giá điện thấp nhất trong ngày. Trong một xưởng đúc rộng khoảng 500m2 có 2 lò đúc phôi thép, mỗi lò ra được 4 mẻ phôi một đêm, mỗi mẻ khoảng 1 tấn vị chi một đêm khu công nghiệp Châu Khê cho ra lò khoảng 400 tấn thép. Tại mỗi lò có từ 4 đến 6 người làm việc, họ phủ kín người bằng những tấm vải quần áo cũ để chống lại cái nóng trên 1000 độ tỏa ra từ trong lò. Cạnh cửa lò có một người thợ chuyên trách bổ sung nguyên liệu, nhiên liệu, đây là người thợ có kinh nghiệm nhất phụ trách về kỹ thuật của mỗi lò đúc. Lao động trong các xưởng đúc chủ yếu là người ngoại tỉnh, từ Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, tranh thủ lúc nghỉ giữa ca anh Nguyễn Văn Tiến người Vĩnh Phúc cho biết mỗi đêm làm việc 6 tiếng anh được trả công 90 nghìn đồng nhưng làm 2 ngày lại phải nghỉ 3 ngày vì đây là công việc rất nặng nhọc, chẳng có ai là người béo tốt cả khi phải đứng tới 6 tiếng liền bên cạnh cái lò đúc lúc nào cũng nóng trên 1000 độ. Không những vậy mà còn nhiều yếu tố khác như khói bụi từ việc đốt cháy các loại phế liệu còn cả sơn, cả nhựa độc hại vô cùng.
Tình hình ô nhiễm môi trường làng nghề như ở Đa Hội không còn là chuyện lạ từ nhiều năm nay, điều đáng lo ngại hơn đó là về chất lượng sắt thép tung ra thị trường hàng năm với số lượng không nhỏ, trong khi chất lượng sắt thép ra sao vẫn chưa có cơ quan nào thẩm định, đánh giá. Số lượng sắt thép này đang góp mặt vào nhiều công trình xây dựng trong cả nước. Ai dám bảo đảm về độ an toàn của những công trình này. Nói vậy nhưng nhu cầu về sắt thép xây dựng ngày một cao, giá thép Đa Hội lại rất vừa túi tiền nên cung vẫn luôn không đủ cầu. Người làng sắt vẫn miệt mài hàng đêm bên những lò đúc đỏ lửa từ 10 giờ đêm cho đến sáng.
Sức sống của những làng nghề truyền thống của Bắc Ninh thật bền bỉ, nó vượt qua những rào cản tưởng không vượt qua nổi của thị trường bằng một cách đi riêng mà chỉ có những người làng nghề mới hiểu. Ngay khi trong nước đã có những nhà máy cán thép với công nghệ hiện đại nhất thì làng sắt Đa Hội vẫn tồn tại và đứng vững với công nghệ đúc cán thép bằng công nghệ đã có từ cách đây 300 năm. Sự tồn tại đó như thách thức với thời gian.
6 giờ sáng, trời thu gợn những nét mây vàng phía trời đông, làng sắt lại bắt đầu vào giấc ngủ ngày theo một quy luật riêng để cho một ngày trôi qua và đêm về nó lại rừng rực sức sống.
Đa Hội tháng 10-2007 |