Tật lê trầm Bắc thủy
Lý tử thụ Nam thiên
Tứ phương can qua tĩnh
Bát biểu hạ bình an.
Đó là một mùa xuân, thời ấy vua Lê Long Đĩnh tàn ngược, ham hưởng thụ, đất nước loạn lạc, thần người đều oán giận. Đọc chữ tật lê, cần hiểu là Tiền Lê, lý chữ Hán là cây mận, hiểu là nhà Lý. Dịch thơ: Gốc lê chìm bể Bắc/ Chồi lý mọc trời Nam/ Bốn phương tan giáo mác/ Tám cõi được bình an (1). Bài thơ được truyền là thơ sấm, thơ của trời giáng xuống. Sau, lịch sử diễn ra đúng như thơ sấm, Thân vệ tướng quân Lý Công Uẩn (quê Cổ Pháp, Từ Sơn) được triều đình tôn lên làm vua, tức Lý Thái Tổ. Mùa xuân, tháng 2 năm Canh Tuất-1010, xa giá về châu Cổ Pháp ban tiền lụa cho các bô lão, tháng 7 có Chiếu dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, mở đầu cho một kỷ nguyên mới của văn minh Đại Việt.
Đến xuân năm Bính Thìn, thời chống Tống, bên sông Như Nguyệt xuất hiện bài thơ Thần (tương truyền của Lý Thường Kiệt): Nam quốc sơn hà Nam đế cư... Bài thơ được coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước.
Đời Trần, Bắc Ninh có đại thụ thi ca: Lý Đạo Tái (quê Vạn Ty, Gia Bình). Ông đỗ Thái học khoa ất Hợi - 1275, có sách chép ông đỗ Trạng nguyên làm ở Hàn Lâm viện, song được vua quý, thường cho theo hầu. Sau ông theo vua, xuất giá, pháp danh là Huyền Quang, thành vị tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm. Huyền Quang có bài thơ Mai hoa. Tết thì Tết, nhà sư đâu có chơi hoa, lại càng không dám dùng hoa để dối lừa các tăng ni bạn hữu tri kỷ, vì theo đạo tu khổ hạnh thời ấy, ăn chay niệm Phật, chuyên chú, không để cho ngoại cảnh vọng động rối loạn tâm trí. Vậy mà Huyền Quang vẫn phải đội tuyết lạnh vào rừng sâu bẻ lấy một cành mai, mục đích của ông là nhờ tình hoa mà đuổi cho cái bệnh sầu não: Bẻ về đâu muốn lừa tri kỷ/ Chỉ mượn tình hoa giải bệnh sầu (2), (Chiết lai bất vị già thanh nhãn/ Nguyện tá xuân tư ủy bệnh ông). Song, cũng nhờ những lúc cô đơn mà Huyền Quang có được một số công trình trước tác rất có giá trị.
Có nhiều thơ xuân hơn cả phải kể đến các thi nhân từ trước thời Lê trở đi: Sái Thuận, Cao Bá Quát, Hoàng Văn Hòe... Sái Thuận (quê Song Liễu, Thuận Thành) đỗ tiến sĩ khoa ất Mùi-1475, làm Hiệu lý ở Hàn Lâm viện, nhà thơ xuất sắc của thời Tao đàn Nhị thập bát tú. Ông có nhiều bài thơ xuân: Đầu xuân (Sơ xuân), Tức sự ngày xuân (Xuân nhật tức sự), Chiều xuân ở kinh đô (Tràng An xuân mộ)... Có thể nói, thiên nhiên của mùa xuân tươi đẹp đã ùa vào trong thơ ông, hoa mỉm cười, yến bay liệng, sắc cỏ, cả càn khôn hiện lên trên những cành cây rừng, cô gái thêu xong ngủ, giấc mộng xuân ai đánh thức cô dậy? Chính là tiếng cuốc kêu ở cành trăm hoa. Sức sống mạnh mẽ của mùa xuân Kinh Bắc cách đây trên năm thế kỷ, thời thái bình hưng thịnh, còn hiện lên trong mấy vần thơ trong bài Thuận An xuân vọng của Sái Thuận:
Khói giậu xanh xanh tỏa gấm là
Quít cam mầm mía cạnh bên nhà
Thái bình cảnh tượng vui con mắt
Một thứ nồm nam vạn thứ hoa (3)
(Ly lạc thanh yên tán ỷ la/Quát chi giá duẩn bạng nhân gia/ Thái bình hữu tượng kham ngu mục/Nhất chủng đông phong vạn chủng hoa).
Thế kỷ XV-XVI, Ngô Chi Lan (quê Kim Anh) nổi tiếng với chùm thơ Tứ thời khúc, trong đó có bài Mùa xuân (Xuân tứ), lại đến khoa Mậu Thìn - 1508, Nguyễn Giản Thanh (làng Ông Mạc, Từ Sơn) có bài phú Phụng thành xuân sắc. Phụng thành là Phượng thành, tức Thăng Long thành. Bài phú ca ngợi mùa xuân ở kinh đô tươi đẹp, cửa vàng điện ngọc, muôn tía nghìn hồng, nhưng ông cũng có ý sâu sắc: cậy hiểm không bằng cậy đức, không thành trì nào bền bằng nhân nghĩa... Tương truyền, chính nhờ bài phú chữ Nôm xuất sắc này mà ông được Trạng nguyên. Thế kỷ XIX, Bắc Ninh có Cao Bá Quát (làng Phú Thị, nay thuộc Gia Lâm) tài năng lỗi lạc, vua Nguyễn khen văn chương của ông và Nguyễn Văn Siêu, đến thời Tiền Hán (T.Q) nhiều tác giả lừng lẫy nhưng cũng chẳng có ai được như thế: Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán... Cao Bá Quát lều chõng lận đận, mãi cũng chỉ đỗ đến cử nhân, làm ở Hàn Lâm viện, thơ chữ Hán của ông, người ta sưu tập được đến 1.353 bài, trong đó có nhiều bài thơ xuân, Đêm xuân đọc sách (Xuân dạ độc thư), Nắng mới sau hôm lập xuân một ngày (Lập xuân hậu nhất nhật tân tình), Trồng mai (Tài mai)... Chỉ cầm mấy hạt mai ném ra đầu núi, thi sĩ họ Cao cũng được một tứ thơ hay, vượt ra khỏi loại thơ thù tạc xướng họa xu thời nịnh thế: Đầu non nắm hạt mai gieo/ Giống thanh gửi chốn núi đèo xanh tươi/ Nữa mai xuân điểm bầu trời/ Bức tranh tuyệt tác cho đời ngắm chung (4). Đến bài Nắng mới... sau lập xuân, ý thơ càng vượt phóng, đằm thắm nhân tình, xuân tới “phá cựu hàn” - phá cái rét năm cũ, bộc lộ nguyện ước khát khao không phải cho riêng ông mà cho cả trăm họ:
Hôm qua xuân đến rét tan
Sáng nay hồng tía muôn ngàn khoe tươi
Việc hoa ước giống việc người
Qua mưa gió lại sáng ngời núi sông (5)
(Khứ nhật xuân lai phá cựu hàn/ Kim chiêu hồng tử đấu thiên ban/ Hà đương thế sự như hoa sự? Phong vũ giang sơn tận cải quan).
Cũng trong triều Nguyễn, sau Chu Thần, Bắc Ninh còn có một nhà thơ lớn, đến nay còn ít người biết đến: Hoàng Văn Hòe (quê làng Giàu, Từ Sơn). Ông đỗ tiến sĩ năm Tân Tỵ 1881, làm quan đến Thị độc, còn để lại đến ba trăm bài thơ chữ Hán, hiện đã dịch được 70 bài. Mùa xuân luôn thấp thoáng trong thơ ông, với các bài: Đi trong rừng Cổ Pháp (Cổ Pháp lâm hành), Lên núi Phật Tích (Đăng Phật Tích sơn), Hoa thủy tiên (Thủy tiên hoa), Cây phù dung (Mộc phù dung)… Cuộc đời nhiều sóng gió, có những phút ông muốn đổi áo mũ cho Cây phù dung, mặc xiêm áo của hoa để được sống trong tiên cảnh. Bài Cao hứng ở quán bên sông (Giang quán khiển hứng - IX), ý thơ chân thực mà cảm động, nội dung có thể thuật lại như sau: Chiều xuân bên sông gió mát, cảnh đẹp/ Trông hoa rơi tự nhiên tình xao xuyến/ Gặp người ở quê sang hỏi chuyện về làng cũ/ Lúa mạ, thu hoạch, giá cả thóc gạo có được bình ổn không? Bài thơ tứ tuyệt, ông quan thi sĩ hỏi chuyện quê hỏi cả giá thóc gạo. Người đọc hiểu được tấm lòng luôn thiết tha, canh cánh, trăn trở của ông với quê hương. Xưa có câu Nam vô tửu như kỳ vô phong, ngày xuân nam giới mấy ai không có lúc vui đôi ba chén rượu. Trong bài Khúc ngâm đêm uống rượu (Dạ ẩm ngâm khúc), ông cũng viết trong khi nâng chén, có lẽ là độc ẩm, nên mới có chuyện vừa uống rượu vừa tự nhắc nhở mình phải tu tâm tu chí hơn nữa, phải chăm lo điều thiện, việc thiện giờ đây làm cũng không muộn, phải dốc sức ắt thành tài Việc vui mừng cũng phải giữ luân thường/ Nhớ suốt đời điều tâm đức (Lạc sự phù luân tự/ Tâm tâm tự khổng hoài)… Thú nhất là trong bài thơ xuân Trên đường họa thơ Phan Đồng Giang (Đạo trung thứ Phan Đồng Giang vận), Hoàng Văn Hòe có hai câu như một tuyên ngôn thơ:
Bút thu một ngọn nghìn non ý
Thơ chứ nửa câu vạn thuở tình (6)
(Nhất chi bút thụ thiên sơn ý/ Bán cú thi hàm vạn cổ tình)
ý thơ thật cao diệu! Một nhánh bút hội được ý của ngàn núi non, nửa câu thơ đủ chứa tình muôn thuở. Phải chăng đó là điều mà các nhà thơ thời nay vẫn thường đàm đạo: Thơ là hàm xúc, còn nói như Chế Lan Viên: Có những bài thơ cửa khép/ Mà tâm hồn mở ra…
Ngày xuân, đọc lại thơ xuân của tiên tổ: có thơ về hoa cỏ, về sức xuân, thơ về ẩm thực, về chúc thọ, lại có những vần thơ bộc lộ cốt cách, khát vọng, định hướng… Phong phú đa dạng, giàu bản sắc, mỗi bài hay mỗi vẻ, trong đó có nhiều tuyệt tác. Đó là một tài sản tinh thần vô giá, hành trang cho tâm hồn con người xuân Mậu Tý này và muôn xuân tới…
Duy Phi
Chú thích:
* Bản dịch của: 1. Đoàn Thăng, 2. Băng Thanh, 3. Bùi Duy Tân & Đào Phương Bình, 4. Hoàng Tạo, 5. Huệ Chi, 6. Lê Xuân Hãng & Tống Đức Nhuận… |