Hiếm vùng đất nào trên miền quê Bắc Ninh - Kinh Bắc này lại may mắn có được sự ưu ái như Từ Sơn. Năng động - điều đó hẳn chưa thể nói hết về con người nơi đây vẫn đời đời miệt mài làm giàu cho quê hương bởi ẩn sau lớp lớp tầng tầng thành quả hiện hữu, còn biết bao tấm lòng tri ân và tâm huyết với những loại hình văn nghệ dân gian. Và sẽ còn mãi âm vang tiếng mõ, tiếng trống dồn chân bước không chỉ vào mỗi độ xuân về…Từ Đoàn Tuồng Tiến Bào ngày ấy…
Không phải chỉ “ngày ấy”, mà cho đến tận hôm nay, hoạt động của CLB Tuồng Tiến Bào (trước đây là đoàn Tuồng Tiến Bào – xã Phù Khê) vẫn được coi như một mô hình thành công và thành danh nhất trong công tác xã hội hoá các loại hình nghệ thuật truyền thống. Thành lập từ năm 1954, nhưng bị gián đoạn khoảng 10 năm không hoạt động, sau này CLB được nghệ nhân Mạnh Dần, một người tâm huyết tái lập từ đội văn nghệ thanh niên địa phương. Hoạt động thực sự của CLB được đánh dấu năm 1983, đó là khi mời được 2 nghệ sỹ Đắc Nhã (Nhà hát Tuồng T.Ư) và nghệ sỹ Minh Châu (Trường Văn hoá nghệ thuật Hà Bắc) về viết kịch bản vở Người mẹ Nguyễn Văn Cừ. Vở Tuồng đầu tiên về đề tài cách mạng trên chính quê hương mình, CLB đã gây được sự chú ý. Vở diễn này đã đem về cho CLB giải Nhất tại hội diễn tỉnh Hà Bắc năm 1984. Theo lời nghệ sỹ Đàm Xuân Trung – chủ nhiệm CLB, đã gần tròn 25 năm đỏ đèn trên các sân khấu phục vụ nhân dân khắp nơi, đến đâu CLB cũng nhận được sự ưu ái đặc biệt của khán giả. Người xem là hầu hết các tầng lớp nhân dân nhưng đều chung một lòng yêu mến.
Tiếp xúc với những diễn viên, nghệ sỹ “làng”, chúng tôi như được lan truyền ngọn lửa đam mê với nghệ thuật Tuồng truyền thống. Vừa nghe họ nói về cái hay, cái đẹp Tuồng, vừa xem họ diễn với sự say cháy đặc biệt, khó lòng hờ hững với loại hình diễn xướng mang đậm tính ước lệ này. Trở lại với câu chuyện của nghệ sỹ Đàm Xuân Trung, ngay trong làng Tiến Bào của anh, có thời điểm đến 3 CLB Tuồng cùng hoạt động. Những năm gần đây, mỗi năm CLB diễn 70, 80 đêm, điểm xa nhất là xã Hà Châu (tỉnh Thái Nguyên), gần hơn thì Hà Nội, Bắc Giang và các khắp các thôn, xã, huyện trong tỉnh. Nếu như trước đây, CLB diễn chủ yếu là vào các dịp lễ hội, thì nay, khánh thành đình, chùa, các ngày Quốc tế Phụ nữ 8 – 3, Đại đoàn kết toàn dân 18 - 11… nhiều nơi đều mời. Với CLB, vùng Ninh Hiệp (Hà Nội) là một sự tri ân đặc biệt. Khoảng 20 năm liên tiếp cho đến nay, năm nào nơi này cũng đón CLB về phục vụ bà con. Từ người già cho đến trẻ nhỏ đều quen mặt diễn viên.
Khẳng định nghệ thuật Tuồng truyền thống không bao giờ mất, người nghệ sỹ lấy dẫn chứng: Tre già măng mọc, trong thôn luôn duy trì được đội tuồng đồng ấu, cháu nhỏ nhất 8 tuổi, lớn nhất 14 tuổi, chủ yếu là con em các diễn viên. Ngay cả trước đây, để duy trì CLB, những người tâm huyết tìm mọi cách cho các đôi trong đoàn lấy nhau để nghiệp hát được lâu dài. Với 20 diễn viên (17 nam, 3 nữ) như hiện nay, CLB có thể diễn hơn 20 đêm liên tục mà không trùng vở. Cắt nghĩa điều này, chủ nhiệm CLB giải thích: Đoàn mình “lành cánh”, các anh chị em đều ở một làng, lại diễn cùng từ lâu nên rất hiểu nhau. Đi diễn nhiều, song anh chị em trong CLB vẫn không coi đó là nghề mang lại thu nhập đảm bảo cuộc sống mà cốt để thoả mãn lòng say mê. Mỗi người một công việc, trước đây cả làng đóng gạch ngói thì nay chuyển hết sang đồ gỗ, anh em hầu hết là chủ doanh nghiệp, có người là trưởng thôn, cựu chiến binh... Sức khoẻ được rèn luyện trong lao động hàng ngày, tối đến lại thổi hồn vào những vai diễn, dường như họ không biết mệt mỏi, cứ đắm say cùng ánh đèn sân khấu.
Nhớ lại những gian truân thuở trước, Đàm Xuân Trung không khỏi bùi ngùi: “Từ 5 nghìn, 10 nghìn, đấu gạo, đấu thóc của bà con mà đoàn Tuồng của chúng tôi được nuôi sống, gom góp dần sắm phục trang. Cái thời đói kém, có những kỳ đi diễn, người diễn viên đi xe thồ, suốt ngày phơi nắng đóng gạch, da cháy đen, tóc tai trụi húi, đến nơi diễn trông nhếch nhác quá nên người ta bảo cắt, không diễn nữa. Phải thuyết phục mãi để vở được diễn. Sau khi vở diễn thành công, bà con lại hô hào mổ lợn khao anh em. Thực ra người dân ở đâu cũng vậy, họ chuộng người diễn đạt, truyền cảm…”. Tìm hiểu thật kỹ nét văn hoá của địa phương nơi mình đến diễn là một bí quyết thành công của CLB. Hơn 10 năm kết nghĩa với Nhà hát Tuồng T.Ư, được sự giúp đỡ nhiệt tình về chuyên môn của lãnh đạo, nghệ sỹ nơi đây, CLB trưởng thành và lớn mạnh lên nhiều sau từng vở diễn. Thành công nhất có thể kể đến: Nữ tướng Đào Tam Xuân, Triệu Đình Long cứu chúa, Tiết Đinh Sơn tam bái Hàm Giang, Tiết ứng Long nhập cốc, Bao Công xử án Quách Hoè, Bao Công xử án Bàng Quý Phi, Bách đao Từ Hải Thọ, Lý Tử Minh cứu chúa, Lý Tử Hoài vượt ô giang, Nàng ca nữ bên sông Dương Tử (Vở Tuồng thương tôn vinh hình ảnh người phụ nữ, diễn chủ yếu vào dịp 8 – 3)… mang về 8 Huy chương Vàng, 1 Bằng khen và nhiều Giấy khen.
… Đến CLB Chèo xã Đình Bảng bây giờ
Ngôi nhà không rộng lắm nhưng khá yên tĩnh trong thôn Xuân Đài của vợ chồng ông Nguyễn Thế Thành hàng tháng vẫn là nơi sinh hoạt đều đặn của CLB Chèo xã Đình Bảng. Đã đôi lần được xem CLB diễn nên chúng tôi không mấy khó khăn để nhận ra những gương mặt quen thuộc sau ánh đèn sân khấu. Có lẽ ít địa phương nào duy trì được CLB văn nghệ đến đến hơn 50 năm liên tục dẫu vẫn có những thăng trầm nếu thiếu sự tâm huyết. Ông Thành năm nay đã ngoài 70, tuổi già hiện lên mái tóc và thân hình mảnh khảnh, song dường như đôi mắt ông chợt sáng lên trên khuôn mặt xương xương khi chúng tôi hỏi về CLB. Là một trong những người đầu tiên thành lập CLB năm 1956, ông Thành nhớ rành rọt các bạn diễn của mình. Đó là các lão nghệ sỹ: Năm Ngũ, Diệu Hương, Cả Tam, Chín Biểu… Năm 1967, địch leo thang bắn phá miền Bắc, trong số 38 diễn viên ban đầu của CLB, nhiều người phải cầm súng, người ở lại sáng tác những bài ca tuyên truyền cách mạng. Dù ở hoàn cảnh nào, tiếng hát Chèo truyền thống vẫn được cất lên mê say và lạc quan. Được địa phương quan tâm tạo quỹ hoạt động bằng nhiều hình thức, các thành viên CLB càng thêm nhiệt huyết. Đến nay, ngoài các vở Chèo truyền thống được CLB thể hiện thành công: Quan âm Thị Kính, Phạm Công Cúc Hoa, Lưu Bình Dương Lễ…, có thể kể đến nhiều vở mới và các tiểu phẩm giàu tính chiến đấu: Bản tình ca ấy, Đôi ngọc lưu ly, Tình hận chốn hoàng cung, Tiếng kêu cứu, Để có bình yên, Tình quê chắp cánh ước mơ.
Cũng vẫn những nghệ sỹ của làng quê Đình Bảng năng động, mỗi người một nghề mưu sinh cùng guồng quay cuộc sống, người buôn chuyến, kẻ thợ mộc… song mỗi mùa lễ hội, họ lại cùng vào vai trên một chiếu Chèo.
Trải qua những thăng trầm của lịch sử và nghề diễn, vẫn còn đó những con người tâm huyết với vốn văn nghệ dân gian cha ông để lại. Đó chính là những mạch nguồn không bao giờ cạn vẫn chảy mãi muôn đời như những mùa xuân cứ nối tiếp mùa xuân. |