A. NHỮNG KẾT QUẢ CHỦ YẾU ƯỚC ĐẾN 2010.
- Kinh tế tăng trưởng cao: Bình quân 5 năm đạt 15,3%, cao hơn mức bình quân giai đoạn 2001-2005 (13,9%).
- Quy mô nền kinh tế tăng nhanh, năm 2010 GDP đạt 9.697 tỷ đồng, gấp 2 lần so với 2005.
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng CNH-HĐH. Đến 2010, tỷ trọng CN-XD đạt 66,2%, dịch vụ đạt 23,6%, nông nghiệp chỉ còn 10,2%.
- GDP bình quân đầu người đạt 1.800 USD, vượt 38% so kế hoạch và tăng 3,4 lần so với 2005.
- Giá trị sản xuất công nghiệp 32,2 nghìn tỷ đồng; thu ngân sách 5000 tỷ đồng; kim ngạch xuất, nhập khẩu 4,3 tỷ USD.
- Giải quyết việc làm 111 nghìn lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo 45%.
- Tỷ lệ hộ nghèo còn 4,5%.
- 100% trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia.
- Giảm tỷ lệ sinh 0,2-0.3%o.
B. KẾT QUẢ CỤ THỂ TRÊN TỪNG LĨNH VỰC:
I. Lĩnh vực kinh tế:
1. Nông nghiệp phát triển ổn định, chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, hiệu quả được nâng cao.
- Năm 2010 giá trị sản xuất đạt 2.546 tỷ đồng, tăng bình quân 3,2%, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội ở khu vực nông thôn.
- Năng suất, sản lượng cây trồng tăng cao: năng suất lúa đạt 60 tạ/ha tăng 5,2 tạ/ha so với năm 2005; giá trị trồng trọt trên 1 ha đạt 73,9 triệu đồng.
- 5 năm, đã chuyển đổi 2.800 ha ruộng trũng sang nuôi trồng thuỷ sản, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản 2010 ước đạt 25,4 nghìn tấn, tăng 1,6 lần so với 2005.
Thực hiện chuyển giao, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, nhất là tăng tỷ lệ lúa lai, lúa hàng hoá, đẩy mạnh sản xuất cây vụ đông với các cây có giá trị kinh tế cao. Đẩy mạnh công tác “dồn điền, đổi thửa” gắn với quy hoạch hạ tầng và vùng sản xuất tập trung..
2. Công nghiệp tăng trưởng cao, công nghệ ngày càng hiện đại:
- Giá trị sản xuất công nghiệp 2010 ước đạt 32,2 nghìn tỷ đồng (giá 1994) vượt 60,4% KH, tăng bình quân 36,9%/năm; đưa qui mô về giá trị sản xuất công nghiệp Bắc Ninh từ vị trí thứ 19 năm 2004 lên vị trí thứ 9 năm 2010 so với toàn quốc.
- Khu vực làng nghề tăng trưởng mạnh với việc phát triển các cụm công nghiệp, duy trì nghề truyền thống, nhân cấy nghề mới.
- Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng cao, chiếm trên 57,5% tổng GTSXCN.
Công nghiệp hỗ trợ được tiến hành trên cơ sở thu hút đầu tư các tập đoàn kinh tế đa quốc gia: Samsung, Canon, . . .
3. Dịch vụ có bước tiến bộ đáng kể.
- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ năm 2010 đạt trên 17 nghìn tỷ đồng tăng bình quân 32,9% năm, tăng 4,1 lần năm 2005.
- Hoạt động ngoại thương phát triển mạnh, xuất, nhập khẩu đạt 4,3 tỷ USD, năm đầu tiên xuất siêu.
- Du lịch bước đầu có chuyển biến tiến bộ, doanh thu tăng 17,7%/năm.
- Lĩnh vực vận tải, hệ thống đường giao thông tiếp tục được nâng cấp và mở rộng, các tuyến xe buýt nội tỉnh và liên tỉnh được đưa vào hoạt động tạo thuận lợi cho đi lại của nhân dân, thúc đẩy thông thương phát triển.
- Mạng lưới Ngân hàng phát triển nhanh, đã có 23 chi nhánh cấp 1, với tổng dư nợ tín dụng năm 2010 ước đạt 22 nghìn tỷ đồng, tăng 4,4 lần so năm 2005.
4. Đầu tư được đẩy mạnh góp phần tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng mạnh, trong 5 năm ước đạt 64 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 33,6%/năm, hàng năm đều đạt trên 50% GDP, vượt kế hoạch; trong đó vốn Nhà nước giảm dần, chủ yếu tăng cường cho xây dựng kết cấu hạ tầng và an sinh xã hội.
- Năm 2010, toàn tỉnh có 4.300 DN với vốn đăng ký 22,6 nghìn tỷ đồng; 5 năm đã thu hút 265 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 3,4 tỷ USD, đứng thứ 7 toàn quốc, thứ 2 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
- Hạ tầng giao thông được tăng cường với kinh phí đầu tư khoảng 1.000 tỷ đồng.
- 5 năm đã đầu tư 1.500 tỷ đồng xây dựng 9 trạm 110 KV tại các khu, cụm CN; cải tạo hệ thống lưới điện nông thôn. Sản lượng điện thương phẩm 2010 đạt 1,8 tỷ Kw/h, gấp 2,7 lần năm 2005.
- Công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng, thu hút đầu tư được đẩy mạnh. Đã quy hoạch 15 Khu CN tập trung với diện tích 7.525 ha, trong đó 10 khu đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy trên diện tích quy hoạch đạt 42%, diện tích thu hồi đạt 61%; thu hút 262 dự án thứ cấp với tổng vốn 2,7 tỷ USD, đã có gần 200 dự án đi vào hoạt động.
- Hệ thống đô thị được quan tâm đầu tư theo hướng hiện đại, 2007 thị xã Bắc Ninh được mở rộng quy mô và nâng cấp, trở thành thành phố; cuối năm 2008 huyện Từ Sơn trở thành thị xã. Nhiều công trình phúc lợi xã hội được hình thành, đưa vào sử dụng: Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc, Bảo tàng, Thư viện, nhà thi đấu đa năng. . .
5. Thu ngân sách Nhà nước tăng nhanh, chi ngân sách Nhà nước được đảm bảo các nhiệm vụ chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên.
- Năm 2010, thu NSNN đạt 5.000 tỷ đồng, vượt 42,8%KH, tăng bình quân 33,2%/năm, gấp 4,2 lần so năm 2005. Các nguồn thu có tính ổn định, các DN sản xuất kinh doanh ngày càng tăng; thu tiền sử dụng đất giảm dần trong cơ cấu thu ngân sách; đặc biệt đã thu hút được nhiều dự án có số nộp ngân sách lớn như: Bia Việt Hà, Rượu Hà Nội, Rượu quốc tế . . .
- Tổng chi NSNN tăng bình quân 32,5%/năm, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 27,9%/ năm, đảm bảo chi thường xuyên, đảm bảo an sinh xã hội và các nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất của tỉnh.
II. Lĩnh vực văn hoá - xã hội:
1. Giáo dục đào tạo:
- Quy mô giáo dục đào tạo được giữ vững và từng bước đạt chuẩn hoá; cơ sở vật chất được nâng cao, tỷ lệ các trường đạt kiên cố hoá 95%.
- Chất lượng giáo dục được giữ vững, hàng năm tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông đạt trên 94%, học sinh thi đỗ đại học, cao đẳng đạt 35-40%, nằm trong 10 tỉnh dẫn đầu toàn quốc.
- Đào tạo nguồn nhân lực có chuyển biến tích cực, toàn tỉnh có 48 cơ sở dạy nghề, trong đó có 6 trường cao đẳng nghề.
2. Khoa học và công nghệ:
- Hoạt động nghiên cứu triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ có bước tiến bộ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là ở các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ thông tin, cải cách hành chính.
- Công tác thanh tra, kiểm tra về khoa học và công nghệ được tăng cường, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, ngăn chặn tình trạng sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận thương mại. . .
3. Công tác y tế, dân số - KHH gia đình và trẻ em:
- Công tác bảo vệ chăm sóc sức khoẻ cán bộ và nhân dân có nhiều tiến bộ, chất lượng khám chữa bệnh có hiệu quả, không để xảy ra dịch bệnh nguy hiểm, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư, nâng cấp, triển khai xây dựng Bệnh viện đa khoa 1000 giường; nâng cấp, mở rộng các bệnh viện chuyên khoa cấp tỉnh, Bệnh viện đa khoa tuyến huyện.
- Thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, 100% xã, phường, thị trấn có bác sĩ và đạt chuẩn về y tế xã.
- Tuổi thọ bình quân trong tỉnh đạt 73 tuổi, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy sinh dưỡng còn 19%.
- Hệ thống mạng lưới công tác dân số - KHHGĐ được tổ chức lại và hoạt động có hiệu quả, triển khai toàn diện các hoạt động chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng.
4. Văn hoá - thông tin - phát thanh - truyền hình và TDTT:
- 5 năm tu bổ 138 di tích với tổng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trên 620 tỷ đồng.
- Biên soạn Địa chí tỉnh Bắc Ninh, Quan họ Bắc Ninh được công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại; tổ chức thành công Festival Bắc Ninh 2010.
- Phát thanh, truyền hình có bước phát triển toàn diện, cải tiến, đổi mới nâng cao chất lượng và nội dung.
- TDTT quần chúng tiếp tục phát triển sâu rộng, các môn thể thao mũi nhọn có bước phát triển, đoàn thể thao của tỉnh xếp thứ 24/67 tỉnh, thành và ngành tại Đại hội TDTT toàn quốc lần thứ 5 (tăng 22 bậc).
5. Lao động - việc làm và đời sống xã hội:
- 5 năm, giải quyết việc làm 111 nghìn lao động, tăng bình quân 7,2%/năm, đạt KH, tăng 45,2% so với 5 năm trước.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 31,5%/ năm 2006 lên 45% năm 2010, vượt chỉ tiêu KH, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn đạt trên 84%, vượt chỉ tiêu KH.
- Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm từ 4% năm 2005 còn 3,4% năm 2010, đạt chỉ tiêu KH.
- Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 còn 4,5%, vượt chỉ tiêu KH. Đặc biệt, đã hoàn thành việc xây nhà cho trên 2.000 hộ nghèo và diện bảo trợ xã hội.
- GDP bình quân đầu người tăng bình quân mỗi năm 27,9% đến 2010 đạt 1.800 USD, vượt KH.
6. Tài nguyên - môi trường:
- Tổ chức điều tra cơ bản về tài nguyên, khoáng sản, địa chất, thuỷ văn trên địa bàn.
- Từ 2006 - 2009 đã thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất để giao đất, cho thuê đất với diện tích trên 4300ha; thu hồi 31 dự án với diện tích 73ha do các tổ chức được giao đất đã vi phạm pháp luật về đất đai.
7. Quốc phòng, quân sự địa phương - An ninh chính trị, trật tự an toàn XH được giữ vững.
8. Xây dựng chính quyền, củng cố bộ máy và cải cách hành chính.
- Tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và cấp huyện theo quy định mới của Chính phủ. Số lượng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh giảm từ 22 xuống còn 17 cơ quan.
- Tích cực triển khai cải cách các thủ tục hành chính, đổi mới, cải tiến, tạo thuận lợi cho người dân và DN. Năm 2009, Bắc Ninh xếp thứ 10 toàn quốc, là 1 trong 3 tỉnh dẫn đầu Miền Bắc về chỉ số năng lực cạnh tranh.