Thứ ba, 21/10/2014
Thống kê truy cập

Trong ngày  :

28459

Đã truy cập :

20163644
Định hướng phát triển

Những nhân tố chủ yếu tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh những năm qua - Đề xuất một số giải pháp phát triển trong thời gian tới

Nói đến tăng trưởng kinh tế là nói đến sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng. Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc. Quy mô và tốc độ tăng trưởng là"cặp đôi" trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, trên thế giới người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của xã hội bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc dân hoặc tổng sản phẩm quốc nội.

Có thể chúng ta đã được nghe nhiều trên các thông tin đại chúng như: báo chí, đài phát thanh, truyền hình ở địa phương,…đều đánh giá kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2006-2010 tăng trưởng cao với mức 15,3%/năm, quy mô nền kinh tế gấp 2 lần so năm 2005. Vậy những nhân tố nào đã tác động, giúp Bắc Ninh có tốc độ tăng trưởng cao như vậy; Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, song ở đây tôi xin mạn phép đi sâu phân tích một số nhân tố cơ bản chủ yếu tác động đến tốc độ tăng trưởng của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn vừa qua.
Thực trạng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh:
Kể từ khi tái lập tỉnh Bắc Ninh (ngày 01/01/1997) với nền kinh tế phát triển ở mức thấp, quy mô kinh tế còn nhỏ bé; Sớm nhận định những khó khăn đó, những mặt thuận lợi về địa kinh tế, các nguồn lực phát triển, cùng với sự vận dụng các quan điểm phát triển, mô hình phát triển, sự lãnh đạo chặt chẽ của Tỉnh uỷ và sự quản lý điều hành có hiệu quả của HĐND và UBND tỉnh, cộng với những nỗ lực, đoàn kết của các ngành, các cấp địa phương, toàn thể nhân dân trong tỉnh ở từng thời kỳ cụ thể, Bắc Ninh đã đạt được những thành tựu lớn lao về kinh tế. Giai đoạn 1997-2000 tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng bình quân đạt 12,59%/năm; 2001-2005 đạt 13,88%/năm; 2006-2010 đạt 15,3%/năm; UTH 2011 tăng 16,24% so năm 2010. Bắc Ninh là tỉnh duy trì được đa tăng trưởng cao trong nhiều năm so với các tỉnh trong vùng ĐBSH, vùng KTTĐ Bắc Bộ và so với các địa phương trong cả nước. Nhờ tăng trưởng kinh tế quy mô GDP của Bắc Ninh tăng lên nhanh chóng, năm 2005 gấp 3,08 lần so năm 1997, năm 2010 tăng  gấp 2 lần so năm 2005. Thu nhập bình quân đầu người từ 196 USD năm 1997 lên 526,4 USD năm 2005 và lên trên 1765 USD năm 2010. Tăng trưởng kinh tế đã tác động tích cực đến cải thiện đời sống người dân, giải quyết cơ bản các vấn đề xã hội; tỷ lệ thất nghiệp từ 6,16% năm 2000 giảm xuống 4,0% năm 2005 và giảm xuống còn 3,28% năm 2010; tỷ lệ hộ nghèo từ 10,17% năm 2000 xuống còn 4,12% năm 2004 (theo chuẩn nghèo năm 2000) và từ 15,24% năm 2005 xuống còn 4,5% năm 2010 (theo chuẩn nghèo năm 2005), 7,27% năm 2010 (theo chuẩn năm 2010) và UTH năm 2011 còn 5,8%; ngoài ra, các vấn đề xã hội khác như Giáo dục-Đào tạo, Y tế, bảo vệ môi trường cũng đạt được những kết quả đáng mừng.
Những nhân tố cơ bản tác động đến sự tăng trưởng kinh tế:
Bắc Ninh cũng như các địa phương và cả nước đang trong ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, nên tăng trưởng kinh tế Bắc Ninh cũng như cả nước đều tăng trưởng theo chiều rộng: là tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng số lượng vốn, và các yếu tố nguồn lực lao động.
Về vốn: Có được sự tăng trưởng kinh tế cao như trên là nhờ Bắc Ninh biết vận dụng mọi hình thức khác nhau để huy động được lượng vốn đầu tư khá lớn. Tỷ trọng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên GDP (giá hh) liên tục gia tăng từ 42,4% năm 2000 lên 55,2% năm 2005 và lên 57,2% năm 2010; vốn đầu tư phát triển chiếm tỷ trọng lớn so GDP chủ yếu ở 2 khu vực là:
+ Khu vực vốn ngoài nhà nước (vốn của các tổ chức, DN và vốn của các hộ gia đình) tăng từ 20,1% năm 2000 lên 40,6% năm 2005 và lên 60,0% năm 2010; nguyên nhân, Bắc Ninh là mảnh đất có trên 62 làng nghề truyền thông ở từng lĩnh vực, đặc biệt các làng nghề tiểu thủ công nghiệp như: Sắt-Đa Hội, Giấy- Phong Khê, Đồng-Đại Bái; Nhôm-Văn Môn…cùng với đó từ khi Luật doanh nghiệp ra đời năm 1998 và sửa đổi năm 2005, các văn bản dưới luật theo hướng tạo điều kiện, tạo  hành lang pháp lý, môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng, cộng với truyền thống con người Bắc Ninh “Cần cù trong lao động và luôn biết sáng tạo” nên số lượng doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ ở nhiều loại hình khác nhau: Năm 1997 có trên 300 doanh nghiệp thì đến hết 31/10/2011 số doanh nghiệp đăng ký hoạt động đã lên đến trên 4500 doanh nghiệp các loại.
+ Khu vực đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Với vị trí thuận lợi về địa kinh tế, nằm cửa ngõ thủ đô Hà Nội, nằm trên hành lang kinh tế Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội-Hạ Long-Hải Phòng. Bắc Ninh đã lựa chọn khâu đột phá để tăng trưởng kinh tế là đầu tư phát triển các khu công nghiệp tập trung, các khu, cụm công nghiệp làng nghề; đồng thời, đẩy mạnh công tác xúc tiến kêu gọi đầu tư, số lượng doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng nhanh từ 157 dự án được cấp GCNĐT năm 2005 lên 334 dự án tính đến 31/10/2011, từng bước khẳng định vai trò ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, góp phần tạo thêm việc làm, tăng kim ngạch xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng thu NSNN chung của tỉnh. Tỷ trọng vốn đầu tư tăng từ 0,6% năm 2000 lên 5,3% năm 2005, lên 28,8% năm 2010.
Nhưng dựa vào vài tính toán đơn giản thiết lập hệ số ICOR khá phổ thông dùng trong các mô hình tăng trưởng dài hạn, định nghĩa tương quan giữa đầu tư với tăng trưởng, thì vấn đề  thiếu hiệu quả của Bắc Ninh cũng như các địa phương khác và cả nước thì còn nhiều vấn đề khá nghiêm trọng. Hệ số này cao có nghĩa là cần nhiều vốn đầu tư để tạo được cùng mức tăng trưởng dự kiến cho tổng sản phẩm GDP. Hệ số ICOR của Bắc Ninh tăng từ 2,19 trong các năm 2000-2001 lên 3,16 trong hai năm 2004-2005 và tăng lên 4,26 trong hai năm 2009-2010; nguyên nhân chủ yếu do tình trạng thất thoát, lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước vẫn còn xảy ra, vốn đầu tư còn kèm hiệu quả (vốn đầu tư vẫn mang tính dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm, nhiều dự án phải điều chỉnh lại tổng mức đầu tư nhiều lần…) trong đầu tư phát triển.
Về nguồn lực lao động: Cùng với nhân tố vốn, lao động cũng có đóng góp không nhỏ vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Bắc Ninh; với kết cấu dân số trẻ, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động dồi dào ( năm 2000 tổng số lao động trong độ tuổi trên tổng dân số toàn tỉnh là 573.126 lao động/951.122 người; năm 2005 là 603.996/998.512; năm 2008 là 633.151/1018.094; năm 2009 là 643.386/1026.379); năm 2010 là 652.302/1038.229); tỷ lệ lao động qua đào tạo hàng năm tăng lên đáng kể đã cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động trong các KCN tập trung, các DN có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng lượng lao động lớn (năm 2000 tỷ lệ lao động qua đào tạo là 11,4% lên 30,5% năm 2005 và lên 45,0% năm 2010); tỷ lệ thất nghiệp hàng năm giảm từ 6,16% năm 2000, xuống 4,0% năm 2005 và xuống còn 3,28% năm 2010 và UTH năm 2011 còn 3,0% (điều này cho ta thấy hoạt động kinh tế Bắc Ninh những năm qua chuyển biến theo chiều hướng tốt lên, đã biết sử dụng tối đa hoặc phần lớn nguồn lực lao động sẵn có của mình để tạo ra giá trị hàng hoá và dịch vụ); hàng năm số lao động được giải quyết việc làm mới bổ sung từ 22-27,0 nghìn lao động đã góp phần tăng trưởng kinh tế cao của Bắc Ninh trong những năm qua.
Tuy nhiên, lao động Bắc Ninh vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm; lực lượng lao động tuy đông về số lượng nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, chất lượng đạo tạo chưa cao, số lượng lao động qua đào tạo vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp sử dụng lao động (đặc biệt là các doanh nghiệp FDI). Thêm vào đó, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị vẫn còn ở mức cao 3,5% năm 2010, tỷ lệ lao động ở khu vực nông thôn không sử dụng hết quỹ thời gian lao động nhàn rỗi vẫn còn ở mức 15-16%.
Từ những mặt hạn chế còn tồn tại trong quá trình tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng theo chiều rộng) của Bắc Ninh trong những giai đoạn qua; Bắc Ninh cần có những thay đổi căn bản trong việc lựa chọn mô hình tăng trưởng để đảm bảo chất lượng tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tiếp theo, trên các cơ sở giải pháp sau:
Một là, các nhà hoạch định phát triển kinh tế cần thay đổi tư duy về mô hình tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế cần dựa trên nền tảng coi trọng chất lượng. Theo đó, trong chiến lược dài hạn của mình đến năm 2030 cần từ bỏ quan điểm phải đạt được tốc độ tăng trưởng cao theo chiều rộng, tăng trưởng nhờ tăng lượng vốn đầu tư, sức lao động, mà chuyển dần sang mô hình tăng trưởng dựa vào tri thức và công nghệ cao.
Hai là,  thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư như: tập trung tăng cường đầu tư cho khoa học công nghệ nhằm nâng cao trình độ khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng vốn. Cần đầu tư có trọng tâm để tạo sự bứt phá của một số công nghệ cao có tác động tích cực đến sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế. Khuyến khích các tổ chức nghiên cứu khoa học tham gia trao đổi sản phẩm công nghệ trên thị trường. Nên sử dụng FDI như là xung lực để tạo hiệu ứng lan toả thúc đẩy công nghệ phát triển. Cần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ NSNN; khắc phục tình trạng tiêu cực, lãng phí, thất thoát trong đầu tư, tăng cương công tác giám sát đầu tư, kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm quy định trong quản lý đầu tư. Cần tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả các chính sách khuyến khích đầu tư trong nước nhằm thu hút vốn đầu tư từ khu vực tư nhân; Đồng thời, tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nước ngoài, cụ thể là FDI và ODA.
Ba là, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, coi đây là nhân tố quyết định đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế. Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực chất là đầu tư cho giáo dục-đào tạo; từng bước xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dạy nghề theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá nhằm đáp ứng  nhu cầu sử dụng nguồn lực lao động có chất lượng cao của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp FDI; Cùng với đó, cần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý trong các cơ sở đào tạo trên tất cả các mặt như phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và tin học.
Bên cạnh đó, Bắc Ninh cần tiếp tục đẩy mạnh tiến trình cải cách hành chính trên các mặt để tạo những điều kiện thuận lợi mọi tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp tiếp cận đầy đủ mọi thông tin kinh tế-xã hội, giảm bớt các rào cản về thủ tục hành chính nhà nước đối với người dân, doanh nghiệp./.


Sở KH- ĐT


Các tin khác: