Thứ tư, 03/09/2014
Thống kê truy cập

Trong ngày  :

37497

Đã truy cập :

18557363
Định hướng phát triển

TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2011-2016

Bắc Ninh là tỉnh có vị trí địa lý thuận lợi, là tỉnh tiếp giáp và cách Thủ đô Hà Nội 30km: Cách sân bay Quốc tế Nội Bài 45km; cách cảng biển Hải Phòng 110km. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm - tam giác tăng trưởng: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; gần các khu, cụm công nghiệp lớn của vùng trọng điểm Bắc bộ. Bắc Ninh có các tuyến trục giao thông lớn, quan trọng chạy qua; nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, văn hoá và thương mại của phía Bắc: đường quốc lộ 1A-1B, quốc lộ 18 (Thành phố Hạ Long - sây bay Quốc tế Nội Bài), quốc lộ 38, đường sắt xuyên Việt đi Trung Quốc.

 Trong tỉnh có nhiều sông lớn nối Bắc Ninh với các tỉnh lân cận và cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân. Vị trí địa lý của tỉnh Bắc Ninh là một trong những thuận lợi để giao lưu, trao đổi với bên ngoài, tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội và khai thác các tiềm năng hiện có của tỉnh. Con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian... đặc biệt là những làn điệu dân ca quan họ trữ tình nổi tiếng trong và ngoài nước.

Trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 16 trường Đại học, Cao đẳng, Trung học dạy nghề và nhiều cơ sở giáo dục có quy mô lớn, chất lượng khá. Trong tỉnh hiện có hơn 650.000 lao động trong đó đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề phát triển khá nhanh phù hợp với nền kinh tế mở cửa. Đội ngũ lao động trong tỉnh có khả năng tham gia hợp tác lao động quốc tế, đồng thời cũng là cơ hội cho các nhà đầu tư khai thác lao động khi đến  Bắc Ninh đầu tư.

Tổng sản phẩm (GDP) tăng bình quân 15,1%/năm, trong đó công nghiệp- xây dựng tăng 18,3%, dịch vụ tăng 19,1%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,2%. Đây là mức tăng trưởng bình quân cao nhất trong các kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm từ khi tái lập tỉnh tới nay. Năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt 1.800USD vượt 38% mục tiêu Đại hội. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 20,4 triệu đồng, trong đó nông thôn 16,4 triệu đồng.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng của ngành công nghiệp, xây dựng năm 2010 ước đạt 64,8%, dịch vụ 24,2%, nông nghiệp đạt 11%. Đầu tư cho phát triển được đẩy mạnh, góp phần tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm ước thực hiện đạt trên 64.000 tỷ đồng, tăng bình quân 33,6%, hàng năm đều đạt trên 50% GDP. Công nghiệp Bắc Ninh từ vị trí thứ 19 (2004) vượt lên vị trí thứ 9 trong toàn quốc. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,250 tỷ USD, tăng bình quân 67,2%/năm. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 10 toàn quốc và là một trong ba tỉnh dẫn đầu miền Bắc. Hoạt động kinh tế đối ngoại được mở rộng, góp phần quảng bá hình ảnh Bắc Ninh, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng thứ 7 trong toàn quốc, thứ 2 trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Với những kết quả hoàn thành và hoàn thành vượt mức hầu hết các chỉ tiêu, trong 5 năm tới, Đảng bộ và nhân dân Bắc Ninh tiếp tục: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, Tăng cường quốc phòng, an ninh. Tập trung mọi nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Phát triển công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững. Xây dựng nông thôn mới; nâng cao chất lượng nguồn lực và an sinh xã hội. Phấn đấu đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại và thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2020.

1. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 13-14%; trong đó công nghiệp và xây dựng tăng bình quân 15-16%, dịch vụ tăng 13,5-14,5%, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 1,7-2%. Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản khoảng 6,2%, công nghiệp và xây dựng 69,4%, dịch vụ 24,4%. GDP bình quân đầu người đạt 3.500 USD (giá thực tế).

2.Giá trị sản xuất công nghiệp 60.000 tỷ đồng; nông nghiệp 2.800 tỷ đồng; phấn đấu đến năm 2015 số xã đạt tiêu chí nông thôn mới là 50%.

3. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm 26,2%, đến năm 2015 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 4 tỷ USD; nhập khẩu tăng bình quân hàng năm 24,9%, đạt 3,5 tỷ USD.

4. Thu ngân sách trên địa bàn đạt 8.500 tỷ đồng, tăng bình quân 13,6%/năm, trong đó thu nội địa tăng bình quân 19,3%/năm; vốn đầu tư xã hội hàng năm đạt 45-50% GDP.

5. Giải quyết tốt các vấn đề văn hóa, xã hội, thực hiện giảm nghèo. Bảo tồn và tôn tạo các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn 3,2%; tỷ trọng lao động phi nông nghiệp đạt 70%; duy trì mức giảm sinh hàng năm 0,2- 0,3%o, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,1%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm còn 10%; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm, phấn đấu đến năm 2015 còn 2,2% (theo tiêu chí mới).

6. Phát triển khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo: 100% các phòng học được kiên cố hóa; phấn đấu 69% trường mầm non, 100% trường tiểu học, 78,3% trường trung học cơ sở và 69,5% trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia; 100% trạm y tế cấp xã được kiên cố hóa. Đạt 140 thuê bao điện thoại/100 dân, 78 thuê bao Internet/100 dân (đã quy đổi).

7. Bảo vệ và giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường; trên 98% dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh; thu gom 100% và xử lý 70% rác thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế.

8. Phát triển nguồn nhân lực, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 60%, trong đó nông thôn 45%; giải quyết việc làm bình quân hàng năm 26-27 nghìn lao động. Chăm sóc, nâng cao sức khoẻ và mức sống của nhân dân. Thu nhập bình quân đầu người đạt 50 triệu đồng/năm, trong đó khu vực nông thôn là 36 triệu đồng/năm.

9. Thực hiện tốt công tác quốc phòng, quân sự địa phương. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đẩy mạnh cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX).

10. Tăng cường công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng; phấn đấu có 85% tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh, không có cơ sở đảng yếu kém, 85% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công tác dân vận của Đảng; xây dựng chính quyền vững mạnh, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm; nâng cao hơn nữa hiệu quả cải cách hành chính, cải thiện quan hệ của cơ quan hành chính với dân.



Các tin khác: