Không thể phủ nhận vai trò của các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) và khu kinh tế (KKT) khi cùng với quá trình đổi mới đất nước, nó đang thể hiện rõ tính chất, hiệu quả của một mô hình mang tính đột phá trong thu hút đầu tư, tăng trưởng công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Được hình thành và phát triển xuất phát từ chủ trương của Đảng và Chính phủ trong việc quy hoạch các vùng tập trung phát triển công nghiệp, vùng lãnh thổ kinh tế gắn với các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tạo đột phá trong phát triển công nghiệp, phát triển vùng phục vụ mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trải qua quá trình xây dựng và phát triển, các KCN, KCX, KKT đã có những đóng góp tích cực trong thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài, giải quyết việc làm, góp phần hiện đại hoá kết cấu hạ tầng, nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế các địa phương và cả nước đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, thương mại gắn với bảo đảm an ninh quốc phòng trên biển, biên giới và đất liền.
KCN, KCX đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, có giá trị lâu dài, góp phần hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước. Các KCN, KCX có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng ngành sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế qua đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả nước theo hướng công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động. Từ những kết quả đạt được của KCN, KCX trước đó, trong những năm gần đây, nước ta cũng đã thí điểm, xây dựng và hình thành các KKT ven biển, KKT cửa khẩu để tận dụng những lợi thế về vị trí địa lý của đất nước. Các KKT này cũng đã từng bước góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương, đẩy mạnh phát triển kinh tế hướng biển, góp phần giữ vững chủ quyền quốc gia trên biển cũng như cải thiện đời sống nhân dân vùng biên giới và gìn giữ an ninh quốc phòng tuyến biên giới đất liền.
Vậy là, song hành cùng với quá trình đổi mới và mở cửa nền kinh tế, Đảng và Nhà nước đã chủ trương hình thành các KCN, KCX, KKT với ý nghĩa là các trung tâm sản xuất công nghiệp, dịch vụ có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Các KCN, KCX, KKT hiện đang là điểm đến của nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới trong các lĩnh vực khác nhau với các sản phẩm đa dạng được xuất khẩu toàn cầu, góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trong bản đồ địa kinh tế của khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, trong quá trình phát triển các KCN, KCX, KKT cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập về công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng, chất lượng thu hút đầu tư, công tác bảo vệ môi trường và vấn đề lao động; cơ chế, chính sách pháp luật liên quan tới KCN, KCX còn chồng chéo, chưa đồng bộ. Các KKT ven biển tuy đã có những kết quả nhất định nhưng do đang trong giai đoạn đầu phát triển nên cần thời gian để phát huy hiệu quả và vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, từng bước hoàn thiện về quy hoạch, định hướng phát triển của từng KKT. Đối với các KKT cửa khẩu, trong thời gian tới, cần có chính sách để thúc đẩy phát triển về mặt kinh tế, thương mại tương xứng hơn với quy mô, chức năng hoạt động.
|
Tính đến cuối tháng 12/2011, cả nước đã có 283 KCN, KCX được thành lập trên 58 tỉnh, thành phố cả nước. KCN, KCX đã huy động được lượng vốn đầu tư lớn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Tính đến cuối tháng 12/2011, các KCN, KCX đã thu hút được 4.113 dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 59,6 tỷ USD, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 27 tỷ USD, bằng 45% tổng vốn đầu tư đăng ký. Hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào KCN, KCX chiếm từ 35-40% tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm của cả nước, trong đó các dự án FDI về sản xuất công nghiệp trong KCN, KCX chiếm gần 80% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp cả nước.
Riêng trong năm 2011, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đăng ký vào các KCN, KCX đạt 6,5 tỷ USD; tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 7,3 tỷ USD; tương đương 44% và 67% tổng vốn FDI đăng ký và thực hiện của cả nước trong năm 2011.
|
Định hướng phát triển KCN, KCX đã được đề cập trong các Nghị quyết của Đảng thời gian gần đây. Chủ trương phát triển KCN, KCX bền vững và theo chiều sâu được đề ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng XI năm 2011: “Bố trí hợp lý công nghiệp trên các vùng; phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp hiện có và đẩy mạnh phát triển công nghiệp theo hình thức cụm, nhóm sản phẩm, tạo thành các tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, hiệu quả cao.” Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI cũng đưa ra 10 định hướng lớn xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, trong đó có định hướng phát triển kết cấu hạ tầng KCN, KKT và nêu rõ: “Phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế. Không lấy đất lúa để xây dựng các khu công nghiệp mới. Đến năm 2015, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu nhà ở và các hạ tầng xã hội thiết yếu như nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, cơ sở khám chữa bệnh... cho lao động các khu công nghiệp. Đến năm 2020, hoàn chỉnh các công trình kết cấu hạ tầng trong các khu công nghiệp, khu kinh tế, đặc biệt là các công trình hạ tầng xã hội và xử lý nước thải, rác thải.”
Tới đây, định hướng phát triển cơ bản KCN, KCX, KKT được nêu ra là phát triển theo chiều sâu, tăng cường tính liên kết, hàm lượng công nghệ trong cơ cấu đầu tư và phát triển bền vững về mặt kinh tế, xã hội, môi trường. Đối với các KKT ven biển, KKT cửa khẩu cần phải có quy hoạch, phân bổ không gian, định hướng và phân kỳ phát triển phù hợp với điều kiện, tiềm năng của các vùng, đồng thời cần huy động vốn đầu tư từ các nguồn và đầu tư tập trung để sớm phát huy hiệu quả, tăng cường tính chủ động của địa phương, tránh tình trạng trông chờ vào nguồn hỗ trợ ngân sách Trung ương.
Trước mắt, các bộ, ngành, địa phương cần phải quán triệt và thực hiện việc rà soát, đánh giá tình hình thực hiện cơ chế, chính sách phát triển KCN, KCX, KKT; Đánh giá việc thực hiện quy hoạch, thành lập, hoạt động của các KCN, KCX, KKT ở các địa phương và đề xuất biện pháp xử lý đối với các KCN, KCX, KKT hoạt động kém hiệu quả, gây lãng phí đất đai, ô nhiễm môi trường, trên cơ sở đó rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phát triển KCN, KKT Việt Nam đến năm 2020; Thu hút đầu tư có chọn lọc, có định hướng theo ngành nghề phù hợp với điều kiện phát triển của từng địa phương; Ưu tiên thu hút các ngành công nghiệp phụ trợ, các dự án có công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường; Chú trọng tính liên kết ngành trong phát triển KCN, KCX, KKT; Xúc tiến đầu tư vào KCN, KCX, KKT theo trọng tâm, trọng điểm tập trung vào các đối tác tiềm năng; Xây dựng kết cấu hạ tầng KCN, KCX, KKT đúng tiến độ, theo quy hoạch được duyệt và đảm bảo hiệu quả sử dụng đất; Đa dạng hóa các hình thức huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN, KCX, KKT; Rà soát hoạt động của các dự án đầu tư vào KCN, KCX, KKT, kiên quyết xử lý các dự án trong KCN, KCX, KKT hoạt động kém hiệu quả; Đánh giá và kịp thời có biện pháp giải quyết các vướng mắc về sử dụng đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, chính sách ưu đãi đầu tư đối với KCN, KCX, KKT; Tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường trong các KCN, KCX, KKT.
Hy vọng với các giải pháp trên, các KCN, KCX, KKT sẽ tiếp tục được hoàn thiện, nâng cao hơn nữa hiệu quả và đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn tới, góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Theo ĐCSVN