Giải pháp
1. Hướng phát triển nguồn nhân lực và mức sống dân cư:
a. Dự báo tốc độ tăng và qui mô dân số tỉnh đến năm 2020:
Thực tế cho thấy, tốc độ tăng trưởng dân số Bắc Ninh giảm dần chủ yếu là do tỷ lệ sinh giảm xuống. Năm 2000 tốc độ tăng tự nhiên là 1,2%, thấp hơn so với trung bình cả nước. Dự kiến đến năm 2005 tỷ lệ đó giảm xuống 0,97% và năm 2010 còn 0,87%. Thời kỳ sau, đến năm 2020 theo dự tính tốc độ đó có thể giảm xuống tới 0,62% (xem phụ lục 5).
Tương ứng, năm 2005 dân số Bắc Ninh khoảng 1004 nghìn người, năm 2010: 1058 nghìn người và năm 2020: 1174 nghìn người.
b. Nguồn lao động:
Các tính toán dự báo dân số cho thấy từ nay đến 2020 về giá trị tuyệt đối số lượng trẻ em dưới tuổi lao động có giảm nhưng không nhiều lắm, đây là một khả năng để nâng cao chất lượng của ngành giáo dục của tỉnh cũng như việc ổn định trưoừng lớp, giáo viên. Hai nhóm có biến đổi lớn cả về số tương đối lẫn tuyệt đối là dân số trong độ tuổi và trên độ tuổi lao động. Bình quân hàng năm trong thời kỳ 2001 - 2010 cần phải lo thêm công ăn việc làm cho khoảng 10 - 12 nghìn người và trong giai đoạn 2011 - 2020 khoảng 8 - 9 nghìn lao động. Tương tự như vậy về mặt phúc lợi xã hội phải lo vào năm 2010 cho số người trên độ tuổi lao động gấp 1,3 lần và năm 2020 là 1,6 lần so với năm 2000.
2. Các phương án phát triển:
Cho đến nay Bắc Ninh chủ yếu vẫn là một tỉnh nông nghiệp với già trị sản xuất bình quân đầu người chưa cao. Như vậy bản thân nỗ lực của tỉnh không đủ để tăng tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư nhằm chuyển sang cơ cấu công nghiệp và dịch vụ trong một thời gian ngắn.
Vì vậy, đối với Bắc Ninh, tiến hành lựa chọn mô hình phát triển là hết sức có ý nghĩa. Quan điểm chủ đạo là: Chú ý phát triển lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn; Lựa chọn ngành, công nghệ, qui mô, cơ cấu phát triển công nghiệp; Tận dụng tối đa đầu tư từ Trung ương và đầu tư trực tiếp nước ngoài, đồng thời khuyến khích mạnh mẽ vốn đầu tư của khu vực tư nhân.
a. Cơ sở lựa chọn phương án:
- Nông nghiệp: Từ giác độ khả năng phát triển, có thể thấy trong thời kỳ 1996 - 2000 tốc độ tăng trưởng bình quân năm của ngành là 6,9%. Nếu biết tận dụng tốt các biện pháp khoa học, kỹ thuật, thay đổi cơ cấu cây trồng, riêng ngành trồng trọt đã có thể đạt được nhịp tăng bình quân năm 4,2% trong giai đoạn 2001 - 2005 và khoảng 2,8% trong giai đoạn 2001 - 2010. Từ năm 2000 lương thực bình quân đầu người của Bắc Ninh vượt mức 470 kg/người/năm, đây chính là điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi. Với sự phát triển chăn nuôi, nông nghiệp không chỉ tăng nhanh hơn về giá trị sản xuất mà còn thay đổi cả về cơ cấu. Với các luận chứng trên có thể đủ căn cứ lựa chọn tiềm năng phát triển của ngành nông nghiệp của Bắc Ninh trong giai đoạn 2001 - 2010.
- Công nghiệp: Với giá trị sản xuất (chủ yếu là tiểu thủ công nghiệp) còn nhỏ bé hiện nay, việc hình thành, đi vào sản xuất và sẽ phát huy tác dụng của hai khu công nghiệp Quế Võ và Tiên Sơn sau năm 2000 sẽ tạo một giá trị sản xuất công nghiệp gấp 5 - 6 lần hiện nay vào năm 2010. Điều này cho phép xem xét các phương án tăng trưởng công nghiệp cao trong 10 năm tới.
- Là quê hương của văn hoá Quan họ, với tiền đề phát triển của hai ngành nông nghiệp và công nghiệp, ngành dịch vụ (xã hội và sản xuất) có đủ điều kiện tăng trưởng ở mức thích hợp khoảng 15%.
b. Tư tưởng chủ đạo cho việc bố trí cơ cấu kinh tế và tính toán các phương án phát triển cho thời kỳ 2001 - 2010:
- Phương hướng chỉ đạo là tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ trong đó coi trọng các ngành sản xuất sản phẩm xuất khẩu, hàng thực phẩm cung cấp cho đô thị, khu, cụm công nghiệp.
- Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần trên cơ sở kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ vai trò chủ đạo.
- Giảm dần sự giãn cách so với mức trung bình của cả nước và các tỉnh trong vùng về các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp chủ yếu, phấn đấu đuổi kịp và vượt mức bình quân cả nước và các tỉnh lân cận.
Xuất phát từ các mục tiêu và định hướng đã nêu ở trên, trên cơ sở lấy thước đo tăng trưởng kinh tế "Bền vững" gắn liền với hiệu quả cao, giải quyết tốt các vấn đề tiến bộ xã hội. Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản đặt ra của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn 2001 - 2010 là:
Theo phương án 1: Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng GDP mỗi năm là 13%. Nếu đạt được mục tiêu này thì GDP/người của Bắc Ninh bằng 129,3% so với mức trung bình cả nước (giá cố định 1994) vào năm 2010.
Theo phương án 2: Nếu đưa nhịp độ tăng trưởng GDP lên 14%/năm thì GDP/người của Bắc Ninh sẽ bằng 141,2%/so với mức trung bình cả nước năm 2010. Đây là phương án đòi hỏi mức nỗ lực phấn đấu rất cao và là phương án để phấn đấu.
c. Tăng trưởng và GDP bình quân đầu người:
Bảng 3.5. Nhịp độ tăng trưởng GDP thời kỳ 2001 - 2020
Đơn vị: %
|
Năm |
2001 - 2005 |
2001 - 2020 |
2011 - 2020 |
|
Phương án 1 (PA chọn) |
|
|
|
|
GDP |
13.5 |
13.0 |
10.5 |
|
Nông, lâm nghiệp |
5.5 |
4.5 |
4.0 |
|
Công nghiệp xây dựng |
19.5 |
17.2 |
11.0 |
|
Trong đó riêng công nghiệp |
22.0 |
18.9 |
11.5 |
|
Dịch vụ |
14.7 |
15.1 |
12.3 |
|
Phương án 2 |
|
|
|
|
GDP |
13.5 |
14.0 |
10.5 |
|
Nông, lâm nghiệp |
5.5 |
5.0 |
4.0 |
|
Công nghiệp xây dựng |
19.5 |
18.0 |
11.0 |
|
Trong đó riêng công nghiệp |
22.0 |
20.0 |
11.5 |
|
Dịch vụ |
14.7 |
16.7 |
12.1 |
Bảng 3.6. GDP bình quân đầu người theo giai đoạn và các phương án
Đơn vị tính: USD
|
Năm |
2000 |
2005 |
2010 |
2020 |
|
Phương án 1 |
|
|
|
|
|
GDP (giá hiện hành) |
249.3 |
437.2 |
733.0 |
1786.2 |
|
GDP (giá so sánh 1994) |
236.7 |
422.5 |
722.7 |
1767.5 |
|
Phương án 2 |
|
|
|
|
|
GDP (giá hiện hành) |
249.3 |
437.2 |
800.5 |
1950.7 |
|
GDP (giá so sánh 1994) |
236.7 |
422.5 |
789.2 |
1930.3 |
d. Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu các ngành:
Tương ứng với các phương án phát triển trên, vào năm 2020 cơ cấu của các ngành kinh tế quốc dân trong tỉnh sẽ chuyển dần từ nông nghiệp là chủ yếu sang công nghiệp và dịch vụ.
Với cơ cấu kinh tế hiện nay, Bắc Ninh là một tỉnh nông nghiệp có mức thu nhập bình quân theo đầu người tương đối thấp. Chủ trương phát triển nhanh công nghiệp sẽ tác động nhiều đến cơ cấu của gia đoạn sau năm 2000. Có thể nói năm 2000 Bắc ninh vẫn là một tỉnh có cơ cấu kinh tế nặng về nông nghiệp (khoảng 38,3% GDP là do nông nghiệp đóng góp). Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá sẽ diễn ra mạnh mẽ vào những năm 2001 - 2005 và tuỳ theo sự nắm bắt thời cơ và sự vận dụng các cơ chế chính sách của tỉnh, Bắc Ninh sẽ chuyển mạnh cơ cấu kinh tế sang công nghiệp và dịch vụ với tỷ trọng hai ngành này ngày một tăng (từ 61,7% năm 2000 lên 82,5% vào năm 2010 và khoảng 90,4% trong gi ai đoạn 2015 - 2020). Nói cách khác, trong điều kiện thuận lợi về phát triển kinh tế, nếu như biết:
Khai thác tiềm năng công nghiệp cả về tài nguyên thiên nhiên và về đầu tư chiều sâu. Sau năm 2000 phát triển chăn nuôi theo hướng chăn nuôi thương phẩm tạo bước nhảy trong tăng trưởng cả giá trị sản xuất và chuyển đổi cơ cấu.
Tiến hành chiến lược tình huống, đấy nhanh năng suất lao động công nghiệp, dịch vụ. Tăng cường quá trình công nghiệp hóa mạnh mẽ bằng cách phát huy đồng bộ sự phát triển các khu công nghiệp tập trung, các cụm, điểm công nghiệp cũng như các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh.
Phát huy thế mạnh, lợi thế so sánh của nền văn minh Quan họ, tính sáng tạo của nhân dân, kỹ năng của người lao động.
Bắc Ninh sẽ có thể đạt mục tiêu cơ bản là một tỉnh công nghiệp vào năm 2015 ( xem biểu dưới đây).
|
Năm |
2000 |
2005 |
2010 |
2020 |
|
Phương án 1 (PA chọn) |
|
|
|
|
|
GDP (giá hiện hành) |
100.0 |
100.0 |
100.0 |
100.0 |
|
Nông, lâm nghiệp |
39.5 |
26.9 |
17.8 |
9.5 |
|
Công nghiệp xây dựng |
33.8 |
44.1 |
49.0 |
52.2 |
|
Riêng: Công nghiệp |
24.9 |
36.1 |
41.8 |
46.1 |
|
Dịch vụ |
26.7 |
29.0 |
33.2 |
38.3 |
|
GDP (giá so sánh 1994) |
100.0 |
100.0 |
100.0 |
100.0 |
|
Nông, lâm nghiệp |
38.3 |
26.6 |
17.5 |
9.6 |
|
Công nghiệp - XD |
35.0 |
45.3 |
50.5 |
52.8 |
|
Riêng: Công nghiệp |
25.8 |
37.1 |
43.0 |
47.0 |
|
Dịch vụ |
26.7 |
28.1 |
32.0 |
37.6 |
|
Phương án 2 |
|
|
|
|
|
GDP (giá hiện thành) |
100.0 |
100.0 |
100.0 |
100.0 |
|
Nông, lâm nghiệp |
39.5 |
26.9 |
17.1 |
9.1 |
|
Công nghiệp xây dựng |
33.8 |
44.1 |
48.1 |
51.2 |
|
Riêng: Công nghiệp |
24.9 |
36.1 |
42.0 |
46.3 |
|
Dịch vụ |
26.7 |
29.0 |
34.8 |
39.7 |
|
GDP (giá so sánh 1994) |
100.0 |
100.0 |
100.0 |
100.0 |
|
Nông, lâm nghiệp |
38.3 |
26.6 |
16.8 |
9.2 |
|
Công nghiệp xây dựng |
25.8 |
37.1 |
43.1 |
47.2 |
|
Riêng: Công nghiệp |
25.8 |
37.1 |
43.1 |
47.2 |
|
Dịch vụ |
26.7 |
28.1 |
33.7 |
39.1 |
e. Nhu cầu đầu tư (tỷ đồng VN)
Để tính toán nhu cầu đầu tư chúng ta sử dụng hệ số ICOR để ước lượng. Hệ số ICOR (Incremetal Capital Output Ratio) cho biết mức trung bình khi muốn tăng thêm 1 đồng GDP cần đầu tư thêm bao nhiêu đồng vốn.
Để chuyển đổi về cơ bản cơ cấu kinh tế thì cần đầu tư một lượng vốn tương đối lớn cho phát triển: cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, phát triển công nghiệp với công nghệ cao và đầu tư chiều sâu vào nông nghiệp.
Tuy nhiên đối với Bắc Ninh là tỉnh phát triển đi lên trong tình trạng điểm xuất phát thấp nên dự kiến hiệu quả vốn đầu tư sẽ có thể phát huy tốt, vì thế hệ số ICOR không cao, chỉ ở mức trung bình cả nước.
Xuất phát từ quan điểm trên tổng nhu cầu vốn đầu tư sẽ được dự kiến như biểu dưới đây.
Tổng nhu cầu vốn đầu tư trong các giai đoạn
(Đơn vị: tỷ đồng)
|
Năm |
2001 - 2005 |
2001 - 2010 |
2011 - 2020 |
|
Tổng số vốn đầu tư (giá hiện thành) |
10846 |
30265 |
100669 |
- Lựa chọn các trọng điểm đầu tư:
Lựa chọn trọng điểm đầu tư là vấn đề quan trọng. Việc chọn đúng những khâu, lĩnh vực có ý nghĩa đột phá để ưu tiên đầu tư nhằm bứt lên đưa nền kinh tế ra khỏi tình trạng kinh tế chậm phát triển sẽ có ý nghĩa lớn trong việc hình thành nhân tố thúc đẩy phát triển của tỉnh.
Sau khi tính toán, cân nhắc các nguồn lực, các yếu tố tác động, tỉnh Bắc Ninh đã quyết định đẩy mạnh phát triển công nghiệp, hướng mạnh vào xuất khẩu. Các khâu, lĩnh vực dưới đây được chọn làm trọng điểm đầu tư.
Trên cơ sở thế mạnh sẵn có của Bắc Ninh đồng thời xét tính phù hợp với định hướng phát triển của vùng trọng điểm cũng như của tỉnh, Bắc ninh tập trung đầu tư vào:
- Ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng: Trước mắt tập trung cải tạo nâng cấp các tuyến đường giao thông trọng yếu, cải tạo cảng Đáp Cầu, mạng lưới điện trên địa bàn tỉnh; hệ thống điện, đường, hệ thống thuỷ lợi, cấp thoát nước thị xã Bắc Ninh và các thị trấn huyện lỵ.
- Đầu tư và phát triển các khu, cụm công nghiệp: Đây là mũi nhọn đột phá tạo tiền đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm phát huy ưu thế vùng trọng điểm Bắc bộ, các trục đường cao tốc. Tiếp tục đầu tư xây dựng khu công nghiệp tập trung Tiên Sơn (khu công nghiệp sạch, chế biến nông sản, điện tử, tin học, dược phẩm, hoá mỹ phẩm và các ngành thủ công mỹ nghệ khác) và Quế Võ (các ngành công nghiệp nặng hướng xuất khẩu) mỗi nơi có qui mô khoảng 150 - 300 ha; các cụm công nghiệp làng nghề và đa nghề ở các huyện, thị xã.
- Phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, mở rộng và nâng cao chất lượng các làng nghề truyền thống. Tập trung đầu tư vào các ngành chế biến lương thực, nông sản, vật liệu xây dựng, may mặc, hàng thủ công, gỗ mỹ nghệ, dâu tằm tơ, sản xuất giấy, sắt thép... theo hướng sử dụng công nghệ tiên tiến nhằm giải quyết được việc làm cho nhiều lao động.
- Chuyển mạnh nền nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá: quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp như: vùng lúa hàng hoá, vùng trồng hoa, vùng cây công nghiệp ngắn ngày, vùng chăn nuôi bò, nuôi các và các con đặc sản để xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, phục vụ cho tiêu dùng của nhân dân đô thị và các vùng lân cận.
- Hình thành và phát triển các trung tâm thương mại và dịch vụ tổng hợp: Đầu tư xây dựng hai khu thương mại thị xã Bắc Ninh, thị trấn Từ Sơn, đồng thời chú ý phát triển thương mại - dịch vụ ở các thị trấn, khu, cụm công nghiệp và ở các làng nghề truyền thống với các ngành dịch vụ thu lợi nhanh và kích thích chuyển dịch cơ cấu.
- Khôi phục và phát triển du lịch, dịch vụ: Để phát huy các tiềm năng sẵn có và đoán trước nhu cầu du lịch của dân các đô thị, khu công nghiệp, khách nước ngoài sẽ tiến hành qui hoạch các điểm du lịch và có kế hoạch từng bước đầu xây dựng, cải tạo theo hướng: khai thác di tích văn hoá, văn hoá lễ hội Quan họ, làng nghề truyền thống như các khu Đền Đô - Đền Đầm, chùa Phật Tích, Đồng Trầm, khu du lịch Thuận Thành...
f. Hướng cụ thể của từng giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 2001 - 2010: Cùng cả nước hội nhập với khu vực và chuyển sang phát triển với chất lượng mới.
Trong giai đoạn này, trên cơ sở các công trình đầu tư sẵn có, tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng, hướng mạnh vào xuất khẩu.
Sự phát triển kinh tế trong giai đoạn này sẽ tiến một bước cao hơn và đi vào thế ổn định trên cơ sở ứng dụng ngày càng rộng rãi các thành tựu khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vì lẽ đó, vai trò của vốn đầu tư đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài (FDI) càng có ý nghĩa quan trọng. Một số lĩnh vực đầu tư trọng điểm trong giai đoạn này là: Bổ xung nguồn vốn, tìm kiếm thị trường, chuyển giao công nghệ và đào tạo cán bộ và công nhân lành nghề. Bằng cách này, Bắc Ninh mới có khả năng chủ động hội nhập với cả nước và ổn định tốc độ tăng trưởng kinh tế theo chiều hướng phát triển bền vững.
- Giai đoạn 2011 - 2020: Công nghiệp hoá và hiện đại hoá:
Tiếp tục tạo ra bước phát triển nhanh và ổn định. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển theo chiều sâu, liên kết mạnh, tốc độ tăng trưởng ổn định, tất yếu sẽ nảy sinh các mất cân đối trong thu nhập các tầng lớp dân cư. Vì vậy đòi hỏi lớn nhất là phải hoạch định ra các chính sách phát triển kinh tế gắn với công bằng và tiến bộ xã hội. Giai đoạn này là giai đoạn đòi hỏi đầu tư mạnh và tập trung vào các công trình phúc lợi công cộng, yêu cầu đặt ra là phải tiến hành một chương trình đầu tư công cộng hợp lý. Đây là một động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển và ổn định xã hội.