Thời nào cũng vậy, các làng xã cũng đều quan tâm xây dựng cho mình những thiết chế văn hóa cộng đồng (đình, đền, chùa) và hàng năm theo mùa vụ “xuân thu nhị kỳ” đã diễn ra các sinh hoạt lễ hội truyền thống. Song mỗi làng xã, có lịch sử tồn tại và phát triển riêng, nên có những tục lệ riêng và hoạt động lễ hội mang mầu sắc riêng. Vì vậy, trong dân gian có câu: “Trống làng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ” là phản ánh sắc mầu riêng của văn hóa lễ hội.
Theo thống kê bước đầu, hiện tỉnh Bắc Ninh có gần 2.000 di tích thuộc địa bàn các huyện, thị, xã, thôn và phần lớn các di tích đều có lễ hội truyền thống. Hầu như làng (thôn) nào cũng có lễ hội dân gian thường gọi tên lễ hội theo tên làng hoặc tên di tích như: Hội Lim, Hội Diềm, Hội Nhồi, Hội Đền Đô, Hội Đồng Kỵ… Có nhiều lễ hội đã trở thành hội vùng như: Hội Lim, Hội Dâu, Hội Thập Đình, Hội Tứ Yên… từng nổi tiếng trong dân gian.
Làng (thôn) của tỉnh Bắc Ninh đều có đình và chùa làng. Đình làng là nơi thờ Thành hoàng làng, được coi là vị thần bản mệnh linh thiêng của cộng đồng, che chở phù hộ cho dân làng. Chùa làng là nơi thờ Phật của dân làng nhằm cầu may hướng thiện. Hàng năm, vào dịp “xuân thu nhị kỳ” tức vào mùa xuân và mùa thu là lúc nông nhàn, phần lớn các làng đều tổ chức lễ hội truyền thống ở đình và chùa. Vào hội: Phần Lễ dân làng tổ chức rước Thần (Thánh) từ các đền (nghè) về đình để tế lễ. Nghi lễ tế Thánh theo tục lệ của từng làng nhằm tưởng nhớ tôn vinh người có công với dân với nước. Phần Hội, làng tổ chức nhiều tục trò dân gian vui chơi giải trí thu hút đông đảo nhân dân vào những sinh hoạt văn hóa văn nghệ vui tươi lành mạnh, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Cộng đồng dân cư là chủ thể của những lễ hội truyền thống này.
Trong công cuộc đổi mới đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, văn hóa được xác định: “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội”. Nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giao lưu và hội nhập quốc tế. Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng đã đề ra đường lối: “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”. Để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc, Nghị quyết xác định: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng và bảo tồn, kế thừa phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”.
Triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành Luật Di sản văn hóa. Điều 25 của Luật quy định về lễ hội: “Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống, bài trừ hủ tục và chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong tổ chức và hoạt động lễ hội. Việc tổ chức lễ hội phải theo quy định của pháp luật”.
Để ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực, thương mại hóa trong việc cưới, việc tang và lễ hội, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 27/CT-TW ngày 12-1-1998 và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 14/1998/CT-TTG ngày 18-3-1998 về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.
Triển khai nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị 14/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Luật Di sản văn hóa trên lĩnh vực văn hóa nói chung, lễ hội nói riêng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Ninh đã đề ra những chủ trương, biện pháp tích cực, nhằm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống, trong đó xác định: quan tâm bảo tồn, phát huy giá trị các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống như: dân ca Quan họ, Ca trù, Tuồng, Chèo, Lễ hội.
Trong các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung, lễ hội nói riêng, vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp, ngăn chặn và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, lạc hậu là nội dung quan trọng. Nhiều lễ hội truyền thống của Bắc Ninh đã được phục hồi và duy trì. Việc tổ chức lễ hội đã được chính quyền các cấp thực hiện nghiêm túc theo Quy chế tổ chức lễ hội do Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ VH, TT&DL) ban hành và sự hướng dẫn của Sở VH, TT&DL, các phòng VHTT. Các hiện tượng tiêu cực, mê tín dị đoan, thương mại hóa trong một số lễ hội đã kịp thời được ngăn chặn và đẩy lùi. Các địa phương tổ chức tốt lễ hội truyền thống góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Nhìn chung, các hoạt động lễ hội ở Bắc Ninh cơ bản là lành mạnh, giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp truyền thống của vùng đất ngàn năm văn hiến.
Trước yêu cầu mới, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh phối hợp và đề nghị các cấp, các ngành tăng cường công tác quản lý nhà nước về lễ hội: hướng dẫn, kiểm tra từ khâu chuẩn bị đến việc tổ chức lễ hội. Các lễ hội phải thành lập Ban tổ chức, phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong ban tổ chức, đồng thời chuẩn bị tốt nội dung và các điều kiện bảo đảm an toàn tuyệt đối về người, tài sản, trật tự an toàn giao thông, vệ sinh môi trường và biện pháp phòng chống cháy nổ… Các lễ hội tiêu biểu như: Lễ hội Lim, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, đền Đô, chùa Phật Tích, đền Vua Bà… phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt và chỉ đạo trực tiếp. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu trình các cơ quan chức năng nghiên cứu phục dựng những lễ hội tiêu biểu đặc sắc, trong đó chú ý: đơn vị tổ chức lễ hội không can thiệp quá sâu vào nội dung, kịch bản lễ hội truyền thống; nghiên cứu bổ sung yếu tố đương đại vào lễ hội truyền thống nhưng không làm phá vỡ kết cấu, mô thức lễ hội truyền thống; đặc biệt quan tâm tới vấn đề khách du lịch trong lễ hội truyền thống; khắc phục việc tổ chức lễ hội tràn lan và thương mại hóa đơn thuần. Thực hiện xã hội hóa đi đôi với việc kiểm tra, uốn nắn để quản lý tốt lễ hội, vì lễ hội được tổ chức ở không gian rộng, đông người; chính quyền (theo phân cấp quản lý) phải trực tiếp chỉ đạo quản lý lễ hội, không đùn đẩy, né tránh việc quản lý lễ hội. Những giải pháp trên nhằm góp phần thiết thực bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội truyền thống, xây dựng đời sống văn hóa và nếp sống văn minh, đáp ứng nhu cầu của nhân dân