Thứ sáu, 24/05/2013
Thống kê truy cập

Trực tuyến  :

432

Đã truy cập :

6801296
Tin tức sự kiện - Nét văn hóa kinh bắc

Khơi nguồn Quan họ 04/04/2012 3:12:23 CH

Mời quí khách quá bộ về thăm vùng quê Quan họ ngàn năm văn hiến, nơi đây có dòng sông Cầu nước chảy lơ thơ, có núi Hồng Vân, có chùa Phật tích có những người con trai con gái thiết tha yêu đời, những liền chị Cầu Lim, những liền anh Khúc Thoại đẹp nết đẹp người, đẹp cả lời ăn tiếng nói. Người quan họ trọng nhau vì nếp, mến nhau vì tình say nhau giọng hát câu ca.

Một canh hát của người Quan họ(TT)
Từ xa xưa người dân vùng quan họ Bắc Ninh vẫn truyền nhau câu hát.
 
Thuỷ tổ quan họ làng ta.
Những lời ca xướng vua Bà sinh ra.
Làng ta trai gái trẻ già
Ai mà ca được ắt là hiển vinh

Làng ta tức là làng Diềm nay là làng Viêm Xá, xã Hoà Long, thành phố Bắc Ninh. Đây được coi là ngôi làng quan họ gốc, nơi còn bảo lưu nhiều bài bản cùng với phong cách diễn xướng và lối chơi quan họ độc đáo. Không những thế nó gắn với 1 truyền thuyết được người già trong làng kể lại rằng.

Ngày xửa ngày xưa, ngày lâu lắm rồi. Có một nàng công chúa con vua Thuỷ tề cưỡi một đám mây hồng đi du xuân khắp vùng Kinh Bắc. Khi đến nơi này làng công chúa thấy cây cỏ tốt tươi, dân cư hoà thuận, thấy vậy nàng bèn  hạ giới sống với dân làng. Bà truyền dạy cho mọi người biết canh, nông, dệt vải, chăn tằm, biết sống yêu thương đùm bọc lẫn nhau, có tôn tin trật tự, có trên, có dưới, có trước có sau. Đặc biệt, bà đã dạy những người dân trong làng biết lấy những câu hát để bày tỏ tình cảm của mình với đất trời, với tổ tiên, giữa người và người với nhau về ăn ở thế nào. Đó là những bài ca Quan họ vẫn được ngân nga cho đến tận bây giờ. Sau khi bà chúa hoá về trời, dân làng lập đền thời gọi là đền thờ vua Bà. Biết ơn công lao vua Bà, người làng Diềm hôm nay vẫn không ngừng gìn giữ nâng niu báu vật quí giá mà vua Bà để lại. Những câu hát quan họ, một báu vật hữu thanh vô hình,lúc như lúc gần, lúc như rất xa, khi réo rắt, khi bảng lảng. Người ta bảo, con gái làng Diềm biết ca Quan họ từ trong bụng mẹ nhưng thật tình phải lớn lên mới ca, mới hiểu hết được những câu hát của vua Bà.

Cho đến bây giờ, chẳng ai biết là Quan họ có bao nhiêu bài, chỉ biết các bà các chị hát cả  ba bốn ngày hội mà vẫn chưa cạn ý, cạn lời. Phận làm gái thời xưa làm gì biết đến cái chữ, học hát thì phải học từng câu, từng dòng rồi nhập tâm. Từ khi biết hát những câu đầu tiên cho đến năm 15,16 mới có thể nhập bọn đi chơi, đi hát. Xưa kia tổ chức quan họ cơ sở được gọi là bọn quan họ chứ không gọi là tổ hay đội quan họ. Bọn là từ để chỉ 1 tập thể đồng nhất chứ không mang nghĩa xấu. Trong 1 làng quan họ thường có nhiều bọn quan họ, có bọn quan họ nam và bọn quan họ nữ. Khác với loại hình dân ca khác lấy hát là chính thì ở văn hoá quan họ người ta lại quan tâm đến những hành vi ứng xử giao tiếp, đối đãi với nhau trong cuộc sống. Đó được gọi là cách chơi quan họ. Và tiếng hát quan họ  là phương tiện để người chơi quan họ thể hiện tất cả những điều đó. Người quan họ đã tiếp khách, mời khách, mời đi chơi hội hay thậm chí chỉ sang nhà nhau thăm thầy mẹ, sau nữa là thăm anh hai chị hai thường bao giờ cũng có cơi trầu đi kèm. Mà trầu phải là trầu têm cánh phượng, bởi theo họ cũng là lá trầu quả cau nhưng phải mất bao công lao mới têm thành trầu cánh phượng, ắt hẳn trong đó phải chứa đựng những tình cảm chân thành, những nỗi niềm mong mỏi thầm kín chưa được cất thành lời.

Trầu này trầu tính trầu tình
Trầu loan trầu phượng, trầu mình, trầu ta
Trầu này têm tối hôm qua
Hôm nay tiếp bạn mang ra mời người


Lễ tục kết chạ giữa các cộng đồng làng xã được xem như là nguồn gốc hát quan họ. Dù được thể hiện bằng bất cứ hình thức nào, tục kết chạ của người quan họ tập trung vào 2 mặt chủ yếu là lễ và nghĩa phản ánh tình người.

Nghe kể rằng khi xưa làng quan họ hai làng quan họ có 2 vị làm quan triều thành, cũng vì mê say quan họ mà đã kết giao với nhau như anh em. Mỗi năm vào ngày hội của 2 làng lại mở tiệc hát quan họ cho trai gái trẻ già của 2 làng cùng vui chơi. Theo lệ làng, thì con trai làng này sẽ kết bạn với con cái làng kia và ngược lại vì thế đã cùng nhau làm lễ kết chạ thì hai làng quan họ sẽ coi nhau như anh em, ruột thịt trong gia đình, công to việc nhỏ hai làng đều có nhau, giúp đỡ nhau cả về vật chất lẫn tinh thần để xây dựng xóm làng an khang, thịnh vượng.

Như vậy, lễ nghĩa của người quan họ trong tập tục kết chạ đã vượt ra khỏi hệ huyết thống để gắn kết các làng xã với nhau. Đây cũng là nét độc đáo trong lối chơi của ngưòi quan họ. Nhưng đặc trưng hơn cả là ngôn ngữ giao tiếp qua lời ca câu hát, văn hoá quan họ. Đó là thái độ trân trọng và cung kính bạn hát. Khi đã kết chạ mỗi làng tự xưng là dân em và gọi người làng kia là dân anh. Tương ứng như thế, trong các bọn quan họ, mỗi người tự xưng là em hoặc chúng em mà gọi bên kia là liền anh hoặc liền chị. Tuy chỉ bắt nguồn từ qui định của toàn dân nhưng do có nhiều làng quan họ gốc kết chạ với nhau và do quá trình mở rộng giao lưu nên hiện tượng này dần trở thành phổ biến chung cho tất cả các bọn quan họ dù nhiều bọn không cùng trong 1 chạ. Như vậy có thể nói tính trân trọng cung kính trong văn hoá lễ nghĩa, tính bình đẳng nam nữ trong kết bạn quan họ chắc chắn được kế thừa trong tập tục chung của các làng kết chạ.

Trong lối chơi quan họ có câu “ Trai đi tìm, gái hát trước”. Có nghĩa là bọn nam phải chủ động đi tìm bọn nữ để kết bạn. Còn trong các cuộc hát bên nam bao giờ cũng phải nhường phần cho bên nữ hát trước. Thông thường khi đã tìm được bạn hát, người Quan  họ sẽ tổ chức 1 canh hát với sự tham gia của đôi bên nam nữ. Mở đầu canh hát bao giờ cũng phải ca giọng lề nối như: La rằng, Đường bạn, Tình tang, Cây gạo, sau đó mới hát đến các bài giọng vặt. Cuối cùng mới đến các bài giọng giã bạn. Điều đặc biệt của hát quan họ là hát đối giọng, đây là điều bắt buộc và là tiêu chuẩn chủ yếu đánh giá hơn, kém, được, thua giữa các bọn quan họ. Chính điều này đã kích thích bọn quan họ phải có những bài độc đáo, đó là những bài hát mới chưa ai biết song phải đảm bảo hội tụ được những tố chất âm hưởng riêng của âm nhạc quan họ.

 



Theo BNTV