Thống kê truy cập

Trong ngày  :

29706

Đã truy cập :

22825920
Tin tức sự kiện - Nghiên cứu - Trao đổi

Về mức lương tối thiểu áp dụng đối với công chức trong cơ quan nhà nước. 10/09/2012 2:54:02 CH

Chính sách tiền lương là một chính sách kinh tế - xã hội quan trọng, tác động trực tiếp đến đời sống của hàng triệu người hưởng lương ở nước ta, trong đó mức lương tối thiểu là một nội dung quan trọng của chế độ tiền lương hiện hành đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Việc ban hành mức lương tối tiểu không chỉ tác động đến tiền lương của người lao động đang làm việc mà còn ảnh hưởng đến việc đóng, hưởng bảo hiểu xã hội, bảo hiểm y tế…

Ảnh minh họa
1. Theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Lao động năm 1994, mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp được sức lao động đơn giản, một phần tích lũy sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác. Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi lấy ý kiến của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động. Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo tiền lương thực tế.
Căn cứ quy định nêu trên, các mức lương tối thiểu chung và mức lương tối thiểu vùng hiện hành được Chính phủ quy định như sau:
- Từ ngày 01/10/2011, mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động rong các doanh nghiệp theo 4 vùng (I, II, III, IV) gồm 4 mức: 2.000.000 đồng – 1.780.000 đồng – 1.550.000 đồng – 1.400.000 đồng/ tháng (Nghị định số 70/2011/NĐ-CP).
- Từ ngày 01/5/2012, mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, các đối tượng thuộc lực lượng vũ trang và người lao động làm việc ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức (Nghị định số 31/2012/NĐ-CP) là 1.050.000 đồng/tháng (bằng từ 52,5% đến 75% mức lương tối thiểu vùng). Trong đó, người lao động trong các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu áp dụng mức lương tối thiểu chung để tính mức lương, phụ cấp lương làm cơ sở đóng, hưởng các chế độ bảo hiểu xã hội, bảo hiểm y tế, tiền lương ngừng làm việc, tiền lương ngày nghỉ lễ, nghỉ hàng năm và tính trợ cấp lao động dôi dư, còn mức lương tối thiểu thực hưởng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.
2. Tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 có hiệu lực từ tháng 5/2013, trong đó có Điều 90 và Điều 91 quy định: Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm việc giản đơn nhât, trong điều kiện lao động bình thường và phải đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ. Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành (không quy định mức lương tối thiểu chung). Mức lương của người lao động (gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung) không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định.
3. Theo quy định hiện hành thì mức lương tối thiểu chung áp dụng đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước có hai ý nghĩa sau:
Một là, mức lương tối thiểu chung là mức lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan, đơn vị của Nhà nước, cụ thể: Mức lương bậc 1 của nhân viên phục vụ trong cơ quan, đơn vị của Nhà nước được quy định bằng mức lương tối thiểu chung.
Hai là, mức lương tối thiểu chung là đơn vị cơ sở nhân với hệ số lương theo ngạch, bậc, chức vụ và các hệ số phụ cấp lương để tính các mức lương và các mức phụ cấp lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan, đơn vị của Nhà nước. Khi điều chỉnh mức lương tối thiểu thì tất cả cán bộ, công chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước đều được điều chỉnh tiền lương.
Qua nghiên cứu quy định chế độ tiền lương của cán bộ, công chức từ năm 1960 đến nay thì mức lương thấp nhất của cán bộ, công chức đều bằng mức lương tối thiểu, cụ thể như sau:
A) Chế độ tiền lương năm 1960 (Nghị định số 25/CP ngày 05/7/1960 của Hội đồng Chính phủ):
- Mức lương tối thiểu là 27,3 đồng/tháng.
- Mức lương bậc 1 của tạp vụ (thường trực gác cổng, quét dọn,…) là 27,3 đồng, bằng với mức lương tối thiểu áp dụng đối với tất cả cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp của Nhà nước.
- Mức lương bậc 1 của cán sự (tương đương chuyên viên hiện nay) là 50 đồng, bằng 1,83 lần mức lương tối thiểu.
- Mức lương tối thiểu của Bộ trưởng là 192 đồng, bằng 7,03 lần mức lương tối thiểu.
b) Chế độ tiền lương năm 1985 (Nghị định số 235/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng):
- Mức lương tối thiểu là 220 đồng/tháng áp dụng đối với tất cả cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp của Nhà nước.
- Mức lương bậc 1 của nhân viên (bảo vệ, phục vụ…) là 220 đồng, bằng mức lương tối thiểu áp dụng đối với tất cả cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp của Nhà nước.
- Mức lương bậc 1 của chuyên viên là 290 đồng, bằng 1,32 lần mức lương tối thiểu.
- Mức lương của bộ tưởng là 770 đồng, bằng 3,5 lần mức lương tối thiểu.
c) Chế độ tiền lương năm 1993 (Nghị định số 25/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ):
- Mức lương tối thiểu là 120.000 đồng/tháng áp dụng đối với tất cả cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp của Nhà nước.
- Mức lương bậc 1 của nhân viên phục vụ bằng hệ số 1 nhân với mức lương tối thiểu là 120.000 đồng/tháng.
- Mức lương bậc 1 của chuyên viên bằng hệ số 1,86 nhân với mức lương tối thiểu là 223.200 đồng/tháng.
- Mức lương của bộ trưởng bằng hệ số 8,2 nhân với mức lương tối thiểu là 984.000 đồng/tháng.
d)Chế độ tiền lương hiện hành (Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ):
- Mức lương tối thiểu áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương tối thiểu chung từ tháng 5/2012 là 1.050.000 đồng/tháng.
- Mức lương bậc 1 của nhân viên phục vụ bằng hệ số 1 nhân với mức lương tối thiểu chung là 1.050.000 đồng/tháng, nếu tính cả 25% công vụ là 1.312.500 đồng/tháng.
- Mức lương của chuyên viên bằng hệ số 2,34 nhân với mức lương tối thiểu chung là 2.245.000 đồng/tháng, nếu tính cả 25% phun cấp công vụ là 3.071.250 đồng/tháng.
- Mức lương bậc 1 của bộ trưởng bằng hệ số 9,7 nhân với mức lương tối thiểu chung là 10.185.000 đồng/tháng, nếu tính cả 25% phụ cấp công vụ là 12.731.250 đồng/tháng.
Như vậy, từ năm 1960 đến nay, mức lương thấp nhất của công chức (nhân viên phục vụ bậc 1) được xác định bằng mức lương tối thiểu. Tuy nhiên, từ tháng 10/2011 mức lương tối thiểu vùng thấp nhất của khu vực doanh nghiệp được quy định cao hơn mức lương tối thiểu chung nên mức lương thấp nhất của công chức hành chính nếu tính cả phụ cấp công vụ thấp hơn mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động trong doanh nghiệp trên cùng địa bàn và thấp hơn cả mức lương tối thiểu vùng thấp nhất.
4. Kiến nghị mức lương tối thiểu áp dụng đối với công chức.
Khi Bộ luật Lao động số 10/2012/QH 13 có hiệu lực thi hành (tháng 5/2013) thì không còn mức lương tối thiểu cung, chỉ có mức lương tối thiểu vùng và ngành, đồng thời Chính phủ không ban hành thang, bảng lương đối với doanh nghiệp nhà nước như hiện nay mà doanh nghiệp tự xây dựng trên cơ sở nguyên tắc do Nhà nước quy định. Theo đó, người sử dụng lao động (doanh nghiệp) không được trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.
Theo quy định của Luật cán bộ, công chức, công chức trong cơ quan nhà nước là công dân Việt nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức doanh trong cơ quan của Nhà nước, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nhưng công chức lại là một bộ phận của thị trường lao động. Lao động của công chức có những yếu tố đòi hỏi tiền lương phải cao hơn mặt bằng chung trong xã hội như công chức chủ yếu sống bằng tiền lương, trình độ đào tạo của cán bộ, công chức cao hơn so với đội ngũ lao động nói chung trong xã hội và đòi hỏi trách nhiệm cao trong hoạt động công vụ; đồng thời, cán bộ, công chức bị điều chỉnh bởi nhiều quy định không được làm để có thu nhập thêm như các loại lao động khác trong xã hội. Công chức là những người quản trị đất nước, lao động công quyền chi phối toàn bộ các hoạt động của xã hội. Công chức được hưởng theo bảng lương do Chính phủ quy định và do ngân sách nhà nước bảo đảm. Nhưng trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì tiền lương của công chức phải đặt trong mối tương quan với mặt bằng tiền lương, tiền công của thị trường lao động, đặc biệt là tương quan với tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước. Nếu không thỏa mãn tốt quan hệ này mà tiền lương của cán bộ, công chức quá thấp sẽ không có nhiều tác dụng trong việc chống tiêu cực, tham nhũng nhằm có được các khoản thu nhập ngoài lương trong các hoạt động công vụ, từ đó tăng dòng chuyển dịch lao động có chất lượng cao từ khu vực nhà nước ra khu vực thị trường. Do đó, căn cứ vào đặc điểm lao động, địa vị của công chức trong xã hội thì mức lương thấp nhất của công chức không nên thấp hơn mức lương tối thiểu của người lao động trong doanh nghiệp trên cùng địa bàn; tiền lương (gồm cả phụ cấp) của cán bộ, công chức cần đạt ở mức trung bình khá trên thị trường lao động.
Khi nghiên cứu cải cách tiền lương của cán bộ, công chức, có ý kiến đề nghị bảng lương của công chức quy định các mức lương bằng tiền (thay cho hệ số lương nhân với mức lương tối thiểu hiện nay). Trường hợp thực hiện theo ý kiến này thì hệ thống bảng lương sẽ tương tự như chế độ tiền lương trước năm 1993, mức lương tối thiểu không còn được sử dụng như là đơn vị cơ sở để tính lương theo ngạch, bậc và các chế độ phụ cấp lương. Theo đó, cứ mỗi lần điều chỉnh tăng tiền lương của công chức thì phải ban hành lại toàn bộ hệ thống bảng lương và các chế độ phụ cấp.
Dù ban hành bảng lương theo các mức lương bằng tiền hanh ban hành hệ số lương nhân với mức lương tối thiểu như hiện hành thì mức lương thấp nhất (nhân viên phục vụ bậc 1) của công chức cần đảm bảo bằng hoặc cao hơn mức lương tối thiểu áp dụng đối với người lao động trên cùng địa bàn để đáp ứng được yêu cầu như phân tích ở trên. Theo đó, đề nghị mức lương thấp nhất trong bảng lương của công chức được xác định theo 2 phương án sau:
- Phương án 1: mức lương thấp nhất trong bảng lương của công chức bàng mức lương tối thiểu vùng cao nhất của khu vực doanh nghiệp.
- Phương án 2: Mức lương thấp nhất trong bảng lương của công chức bằng mức bình quân của các mức lương tối thiểu vùng (4 vùng) của khu vực doanh nghiệp, đồng thời áp dụng hệ số tiền lương tăng thêm hoặc áp dụng chế độ phụ cấp để bảo đảm mức lương thấp nhất (gồm cả phụ cấp) của công chức cao hơn mức lương tối thiểu của người lao động trên cùng địa bàn.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người ở mức trung bình thấp, khả năng ngân sách nhà nước còn khó khăn nhưng đối tượng hưởng lương và trợ cấp từ ngân sách nhà nước quá lớn thì việc lựa chọn mức lương thấp nhất để làm cơ sở thực hiện cải cách tiền lương đối với công chức cần vừa bảo đảm quy định của Bộ luật Lao động, vừa phải phù hợp với khả năng của nền kinh tế. Tuy nhiên, để đạt được một trong 2 phương án nêu trên cần phải thực hiện có lộ trình phù hợp với khả năng ngân sách của nhà nước, đồng thời phải thực hiện đồng bộ các giải pháp về cải cách hành chính, thu gọn đầu mối tổ chức bộ máy và tinh giảm biên chế, đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và tiền lương đối với khu vực sự nghiệp công lập.


ThS. Nguyễn Quang Dũng (Phó Vụ trưởng Vụ Tiền lương, Bộ Nội vụ)


Các bài mới:
Các bài đã đăng: