Chỉ đạo điều hành

Một số điểm mới trong lập, quản lý và quyết toán chi thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 40 Luật Ngân sách nhà nước

15/04/2026 14:28

Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 104/2026/NĐ-CP quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 40 Luật Ngân sách nhà nước. Theo đó, Nghị định số 104/2026/NĐ-CP thay thế Nghị định số 98/2025/NĐ-CP đã mở rộng phạm vi nhiệm vụ được sử dụng chi thường xuyên, đồng thời điều chỉnh lại thẩm quyền phê duyệt hồ sơ, nguyên tắc bố trí dự toán và cơ chế quyết toán. Cụ thể có 09 điểm mới đáng chú ý như sau:

1. Mở rộng đáng kể phạm vi điều chỉnh của Nghị định

Khoản 1 Điều 1 Nghị định 98/2025/NĐ-CP chủ yếu điều chỉnh chi thường xuyên để mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị; thuê hàng hóa, dịch vụ; sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hạng mục công trình trong các dự án đã đầu tư xây dựng và các nhiệm vụ cần thiết khác theo khoản 6 Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước.

Trong khi đó, khoản 1 Điều 1 Nghị định 104/2026/NĐ-CP chuyển sang điều chỉnh toàn bộ việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán chi thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 40 Luật Ngân sách nhà nước, bao gồm thêm 04 nhóm nhiệm vụ mới là:

- Giải phóng mặt bằng;

- Chi phí chuẩn bị, phê duyệt dự án đầu tư công sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi;

- Lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư dự án;

- Hoạt động quy hoạch.

2. Bổ sung cơ chế chi thường xuyên cho nhiệm vụ giải phóng mặt bằng

Trước đây, tại Nghị định 98/2025/NĐ-CP không có chương riêng về chi thường xuyên cho nhiệm vụ giải phóng mặt bằng.

Tuy nhiên Nghị định 104/2026/NĐ-CP đã bổ sung cả Chương II để quy định chi tiết về chi thường xuyên cho nhiệm vụ giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất và khi Nhà nước trưng dụng đất.

3. Bổ sung quy định riêng về chi thường xuyên cho chuẩn bị, phê duyệt dự án ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài

Nghị định 104/2026/NĐ-CP dành riêng Chương III để điều chỉnh việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí chuẩn bị, phê duyệt dự án đầu tư công sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài.

Trong khi tại Nghị định 98/2025/NĐ-CP chưa có nhóm nhiệm vụ này.

4. Bổ sung cơ chế chi thường xuyên cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự án

So với Nghị định 98/2025/NĐ-CP, Nghị định 104/2026/NĐ-CP đã bổ sung riêng Chương IV (từ Điều 13 - Điều 16) về chi thường xuyên để thực hiện nhiệm vụ lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư; lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án.

Điều 13 Nghị định 104 nêu rõ nguồn chi thường xuyên chỉ áp dụng cho nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư của các dự án chưa có trong kế hoạch đầu tư công trung hạn.

Điều 16 quy định khá cụ thể về quyết toán phần chi phí này như sau:

- Được quyết toán theo niên độ ngân sách hằng năm;

- Khi dự án được phê duyệt thì tổng hợp vào quyết toán của dự án;

- Nếu dự án không được quyết định chủ trương đầu tư hoặc quyết định đầu tư thì vẫn được quyết toán theo quy định hiện hành.

Trước đó, Nghị định 98/2025/NĐ-CP chưa quy định khung pháp lý riêng cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư tương tự. 

5. Lần đầu bổ sung chương riêng về chi thường xuyên hoạt động quy hoạch

Nghị định 104/2026/NĐ-CP đã thêm Chương VII quy định về chi thường xuyên cho hoạt động quy hoạch, từ nội dung, phạm vi, nguyên tắc sử dụng vốn, nguồn kinh phí, lập dự toán, quản lý, sử dụng đến quyết toán.

Trong đó, Điều 23 và Điều 24 Nghị định 104/2026/NĐ-CP nêu rõ hoạt động quy hoạch có thể dùng nguồn chi thường xuyên theo phân cấp ngân sách, đồng thời cho phép có nguồn tài trợ bằng tiền của tổ chức, cá nhân.

Điểm b khoản 4 Điều 26 còn quy định nếu hoạt động quy hoạch có thời hạn thực hiện trên 12 tháng thì ngoài quyết toán theo niên độ còn phải quyết toán nhiệm vụ, dự án hoàn thành.

Trong khi đó, Nghị định 98 không điều chỉnh hoạt động quy hoạch. 

6. Phân cấp mạnh hơn với nhiệm vụ từ 240 tỷ đồng trở lên ở trung ương

Theo quy định mới tại điểm c khoản 2 Điều 17 Nghị định 104/2026/NĐ-CP, với nhiệm vụ có tổng dự kiến kinh phí từ 240 tỷ đồng trở lên, bộ, cơ quan trung ương chỉ cần tổng hợp ý kiến các bộ liên quan như Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính trong trường hợp cần thiết; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương tự quyết định phê duyệt chủ trương và dự kiến kinh phí.

Như vậy, quy định mới đã bỏ bước xin ý kiến và phê duyệt của Thủ tướng theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị định 98/2025/NĐ-CP. Đây là thay đổi lớn theo hướng tăng phân cấp, phân quyền cho bộ, cơ quan trung ương. 

7. Chuyển thẩm quyền của địa phương từ HĐND cấp tỉnh sang UBND cấp tỉnh ở nhiều nội dung

Nghị định 104/2026/NĐ-CP đã chuyển thẩm quyền quyết định hoặc quy định thẩm quyền quyết định phê duyệt nhiệm vụ và dự toán kinh phí đối với mua sắm, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp tài sản, trang thiết bị ở địa phương cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại khoản 3 Điều 17 và điểm b khoản 2 Điều 20, thay vì giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị định 98/2025/NĐ-CP

Tương tự, hoạt động quy hoạch tại địa phương cũng do UBND cấp tỉnh quyết định hoặc quy định thẩm quyền phê duyệt dự kiến chi phí theo điểm b khoản 2 Điều 25. 

8. Không còn loại hẳn lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại ra khỏi phạm vi 

Khoản 3 Điều 1 Nghị định 104/2026/NĐ-CP quy định đối với nhiệm vụ sử dụng chi thường xuyên trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại thì vẫn áp dụng trình tự, thủ tục lập dự toán, phân bổ, giao dự toán và quyết toán theo Nghị định 104/2026/NĐ-CP, đồng thời kết hợp với quy định riêng của Chính phủ cho phù hợp đặc thù. Trong khi tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 98/2025/NĐ-CP, các nhiệm vụ trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thuộc diện không điều chỉnh của Nghị định này mà thực hiện theo Nghị định riêng

9. Mở rộng hơn đối với lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số

Khoản 3 Điều 1, khoản 4 Điều 3 Nghị định 98/2025/NĐ-CP chỉ đề cập đến lĩnh vực công nghệ thông tin, khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường và yêu cầu áp dụng trình tự thủ tục của Nghị định cùng pháp luật chuyên ngành.

Trong khi Tại khoản 3 Điều 1, khoản 4 Điều 3 Nghị định 104/2026/NĐ-CP mở rộng thành “công nghệ thông tin, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường”, đồng thời bổ sung quy định nếu pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có cơ chế, chính sách ưu tiên, ưu đãi hoặc thuận lợi hơn thì được áp dụng theo cơ chế thuận lợi hơn đó.

Nghị định 104/2026/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 31/03/2026, tải về.

Nguyễn Thanh Huyền