Tóm tắt: Phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước là một nội dung cốt lõi của tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Tuy nhiên, thực tiễn pháp luật trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước có tính chất liên ngành đang tồn tại tình trạng chồng chéo nhiệm vụ, giao thoa chức năng và thiếu rõ ràng về trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước. Điều này làm giảm hiệu lực, hiệu quả, gia tăng chi phí hành chính, phát sinh tình trạng né tránh pháp luật. Từ giác độ nghiên cứu khoa học, bài viết phân tích thực trạng pháp luật về phân định thẩm quyền trong các lĩnh vực liên ngành ở Việt Nam hiện nay, làm rõ hạn chế, nguyên nhân và đề xuất giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về phân định thẩm quyền đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, tinh gọn và hiệu quả.
Từ khóa: kiểm soát quyền lực; lĩnh vực liên ngành; phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền; quản trị quốc gia.
Abstract: The delimitation of authority among state agencies is a core component of the organization and operation of state power, playing a particularly important role in ensuring the effectiveness and efficiency of national governance. However, in practice, the legal framework governing many intersectoral areas of state management in Viet Nam still reveals overlaps in duties, intersections in functions, and a lack of clarity regarding responsibilities among state agencies. This situation reduces administrative effectiveness and efficiency, increases administrative costs, and leads to the avoidance of legal responsibility. The article analyzes the current legal framework on the delimitation of authority in intersectoral fields in Viet Nam, identifies existing limitations and their underlying causes, and proposes solutions to improve the legal framework in order to meet the requirements of building a modern, streamlined, and effective public administration.
Keywords: power control; intersectoral fields; decentralization, delegation of authority, and delimitation of authority; national governance.
1. Đặt vấn đề
Trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, các vấn đề quản lý nhà nước ngày càng mang tính liên ngành, liên lĩnh vực và đa chủ thể, nhiều vấn đề công không còn thuộc phạm vi quản lý riêng biệt của một cơ quan mà đòi hỏi sự tham gia đồng thời của nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, các lĩnh vực như đầu tư công gắn với quy hoạch, đất đai, xây dựng, môi trường và tài chính; chuyển đổi số liên quan đến nội vụ, công an, tài chính, thông tin truyền thông; an toàn thực phẩm liên quan đến nông nghiệp, thương mại, nhập khẩu; quản lý biến đổi khi hậu liên quan đến tài nguyên môi trường, xây dựng, giao thông và chính quyền địa phương …đều có đặc điểm liên ngành và đang đặt ra yêu cầu pháp luật phân định rõ thẩm quyền giữa các cơ quan nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.
Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành về phân định thẩm quyền vẫn còn chịu ảnh hưởng tương đối lớn của mô hình quản lý theo ngành dọc truyền thống. Điều này dẫn đến tình trạng chồng chéo chức năng nhiệm vụ; giao thoa thẩm quyền; nhiều cơ quan cùng quản lý một lĩnh vực hoặc khó xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chính. Nghị quyết 18-NQ/TW1 đã chỉ rõ yêu cầu phải khắc phục triệt để sự trùng lặp, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ và thực hiện nguyên tắc “một việc chỉ do một cơ quan chủ trì và chịu trách nhiệm chính”. Thực hiện yêu cầu này, thời gian qua pháp luật đã từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý về phân định thẩm quyền, thông qua Hiến pháp 2013 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025), Luật Tổ chức Chính phủ (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2025) và nhiều luật chuyên ngành. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng hệ thống pháp luật vẫn tồn tại nhiều bất cập, chồng chéo, giao thoa, thiếu thống nhất và trùng lặp nhiệm vụ; chưa phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền; cơ chế kiểm soát quyền lực chưa thực sự đầy đủ… Biểu hiện những bất cập này khá đa dạng, từ chưa tương thích giữa luật tổ chức bộ máy nhà nước với một số luật chuyên ngành, trùng lặp chức năng giữa các cơ quan cùng cấp, đến việc phân định chưa rõ ràng giữa thẩm quyền của trung ương và địa phương… dẫn tới phát sinh tình trạng “tranh chấp thẩm quyền” hoặc “né tránh, đùn đẩy trách nhiệm” làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước, gia tăng chi phí tuân thủ pháp luật…
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách nền hành chính, tổ chức tinh gọn bộ máy, thúc đẩy phân cấp, phân quyền, rõ người rõ việc gắn với chính quyền địa phương 02 cấp, yêu cầu hoàn thiện pháp luật về phân định thẩm quyền, đặc biệt trong các lĩnh vực liên ngành trở thành nhiệm vụ cấp thiết hơn bất cứ khi nào cả về lý luận và thực tiễn.
Từ những lý do trên, bài viết tập trung phân tích việc vận dụng một số nguyên tắc cốt lõi về phân định thẩm quyền nhà nước, đối chiếu các quy định pháp luật chuyên ngành để phân tích chỉ rõ hiện trạng và nguyên nhân của những chồng chéo nhiệm vụ, giao thoa chức năng, trùng lặp thẩm quyền, thiếu thống nhất và rõ ràng về trách nhiệm của các cơ quan trong quy định pháp luật về phân định thẩm quyền hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện.
2. Cơ sở pháp lý và một số nguyên tắc cơ bản về phân định thẩm quyền
“Phân định thẩm quyền” là khái niệm sử dụng khá phổ biến trong khoa học pháp lý và quản lý nhà nước, được hiểu là quá trình xác lập, phân bổ và xác định ranh giới quyền hạn của từng cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, bảo đảm không chồng chéo, trùng lặp hoặc bỏ sót thẩm quyền2. Trong Nhà nước pháp quyền, mọi cơ quan nhà nước chỉ được thực hiện quyền hạn trong phạm vi do pháp luật quy định, vì vậy, phân định thẩm quyền tất yếu phải được đặt trên nền tảng pháp lý rõ ràng. Phân định thẩm quyền hiện nay ở Việt Nam được hình thành từ các quy định của Hiến pháp 2013 (sửa đổi 2025), Luật Tổ chức Chính phủ (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2025), các luật chuyên ngành và hệ thống văn bản quy định về phân cấp, phân quyền. Trong đó, Hiến pháp là nền tảng pháp lý cao nhất quy định về phân định thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, đặc biệt là phân định giữa trung ương và địa phương, các quy định tại Điều 94, Điều 111, 112 là cơ sở để phân định chức năng, xác định giới hạn thẩm quyền và xây dựng hệ thống pháp luật chuyên ngành.
“Phân định thẩm quyền” không chỉ là vấn đề kỹ thuật lập pháp mà còn là vấn đề cấu trúc của tổ chức quyền lực nhà nước, phân định thẩm quyền phản ánh cách thức Nhà nước thiết kế và vận hành quyền lực công, đồng thời quyết định mức độ hiệu quả của hệ thống quản trị quốc gia. Đặc biệt trong các lĩnh vực liên ngành, lĩnh vực quản lý có sự tham gia của nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, với tính chất phức tạp và đa chiều, khó tách biệt tuyệt đối thẩm quyền, đòi hỏi phối hợp thẩm quyền thường xuyên, dễ phát sinh chồng chéo thẩm quyền nếu pháp luật không quy định rõ ràng… Do vậy, việc phân định thẩm quyền phải tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc pháp luật về phân định thẩm quyền phản ánh bản chất của quyền lực nhà nước và yêu cầu bảo đảm hiệu quả quản lý.
2.1. Nguyên tắc phân định thẩm quyền bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp của quyền lực nhà nước
Thẩm quyền là giới hạn pháp lý của quyền lực, chi phối toàn bộ quá trình tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025) quy định “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước…”3 với hàm ý rằng, việc phân định thẩm quyền của cơ quan nhà nước phải được xác lập, giới hạn và kiểm soát, qua đó bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, bảo đảm mọi quyền lực đều có cơ sở pháp lý và được kiểm soát, cụ thể là:
Thứ nhất, “Thẩm quyền chỉ phát sinh từ pháp luật và bị giới hạn bởi pháp luật”, mọi thẩm quyền của cơ quan nhà nước phải được quy định bằng pháp luật, bảo đảm tính hợp pháp, minh bạch và có thể kiểm soát. Do vậy, mọi phân định thẩm quyền phải phù hợp với Hiến pháp, việc giao, xác định thẩm quyền phải dựa trên luật và các văn bản dưới luật hợp lệ, đúng trình tự, đúng chủ thể. Không có phân định thẩm quyền nào tồn tại ngoài khuôn khổ pháp luật, cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép và trong phạm vi được quy định.
Thứ hai, phân định thẩm quyền bảo đảm tính thống nhất và thứ bậc của hệ thống pháp luật. Các quy định về thẩm quyền phải được thiết kế theo một trật tự thứ bậc rõ ràng (Hiến pháp - luật - văn bản dưới luật), bảo đảm không có sự mâu thuẫn hoặc chồng chéo giữa các văn bản. Việc vi phạm nguyên tắc này sẽ dẫn đến tình trạng “đa tầng thẩm quyền” không kiểm soát, làm suy giảm hiệu lực pháp luật và gây khó khăn cho hoạt động áp dụng và thực thi.
Thứ ba, bảo đảm tính chính danh, hiệu lực và hiệu quả của thẩm quyền. Tính chính danh giúp quyền lực nhà nước được thực hiện hợp hiến, hợp pháp và được xã hội thừa nhận, hiệu lực và hiệu quả để bảo đảm cho quyền lực đó có khả năng vận hành hiệu quả trong thực tiễn quản lý.
2.2. Phân định thẩm quyền bảo đảm phân công và kiểm soát quyền lực
Phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước được chi phối trực tiếp bởi cách thức thiết kế và vận hành hệ thống. Hiến pháp năm 2013 quy định4 “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Nguyên tắc đòi hỏi quyền lực nhà nước phải được tổ chức theo hướng phân chia hợp lý giữa các cấp, giữa các cơ quan chủ thể và đồng thời thiết lập cơ chế để các cơ quan giám sát, kiềm chế và kiểm soát lẫn nhau nhằm bảo đảm không có sự tập trung quyền lực tuyệt đối, ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền.
Một là, xác lập ranh giới thẩm quyền rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước dựa trên chức năng, nhiệm vụ và vị trí pháp lý của từng chủ thể trong bộ máy nhà nước. Ranh giới thẩm quyền là giới hạn pháp lý xác định phạm vi quyền hạn, trách nhiệm và phương thức hoạt động của từng cơ quan nhà nước, nhất là trong điều kiện quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thì việc xác định ranh giới thẩm quyền là yêu cầu tất yếu, bảo đảm cho bộ máy nhà nước vận hành thống nhất, tránh chồng chéo quyền lực, đồng thời nâng cao trách nhiệm và hiệu quả quản lý.
Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phân công và phối hợp trong thực thi quyền lực. Phân công và phối hợp là hai yêu cầu có quan hệ hữu cơ không thể tách rời, phân công là để xác định rõ phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan, phối hợp để bảo đảm các cơ quan vận hành thống nhất, đồng bộ thực hiện hiệu quả. Hai yếu tố này phải được thiết kế đồng bộ trong pháp luật về phân định thẩm quyền nhằm xây dựng nền hành chính minh bạch, hiệu lực và hiệu quả.
Ba là, thiết lập các cơ chế pháp lý để giám sát và hạn chế việc thực thi thẩm quyền. Xuất phát từ bản chất của quyền lực nhà nước luôn có khả năng bị lạm dụng nếu không được kiểm soát bằng các giới hạn pháp lý và cơ chế giám sát hữu hiệu. Vì vậy, yêu cầu đặc biệt trong hoàn thiện quy định về phân định thẩm quyền là việc thiết lập cơ chế pháp lý nhằm giám sát và hạn chế việc thực thi thẩm quyền của các cơ quan nhà nước và người có chức vụ, quyền hạn. Việc kiểm soát thực thi thẩm quyền không nhằm cản trở hoạt động quản lý mà nhằm bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng phạm vi.
2.3. Phân định thẩm quyền rõ ràng và không chồng chéo
Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và luật”5, và “Quyền lực nhà nước… có sự phân công, phối hợp, kiểm soát…” (khoản 3 Điều 2) với hàm ý nguyên tắc rằng, thẩm quyền phải được xác định rõ ràng bằng pháp luật và phải phân định hợp lý giữa các cơ quan, tránh chồng chéo, đòi hỏi mỗi nhiệm vụ quyền hạn phải được xác định cụ thể về chủ thể, nội dung và phạm vi, đồng thời bảo đảm không có sự trùng lặp về phạm vi quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước; bảo đảm mỗi nhiệm vụ quản lý nhà nước cần được giao cho một chủ thể chịu trách nhiệm chính, tránh tình trạng nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền đối với một vấn đề, dẫn đến trùng lặp hoặc xung đột, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước.
Tính rõ ràng của quy định về thẩm quyền thể hiện ở việc pháp luật phải xác định đầy đủ các yếu tố cấu thành của thẩm quyền, bao gồm: (i) chủ thể có thẩm quyền; (ii) nội dung và phạm vi quyền hạn; (iii) điều kiện và giới hạn thực hiện; (iv) trình tự, thủ tục áp dụng; và (v) trách nhiệm pháp lý tương ứng. Không chồng chéo và trùng lặp thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước thể hiện là mỗi nhiệm vụ chỉ có một chủ thể chịu trách nhiệm chính, không “giao thoa”, không “kiểm soát” giữa các cấp chính quyền, trung ương không can thiệp vào việc đã giao cho địa phương, địa phương không vượt quá phạm vi được giao..
2.4. Phân định thẩm quyền gắn quyền hạn với trách nhiệm
Gắn quyền hạn với trách nhiệm là đảm bảo sự thống nhất giữa quyền hạn và trách nhiệm trong thực thi quyền lực, mọi quyền lực được trao đều phải đi kèm trách nhiệm pháp lý tương ứng; chủ thể được trao quyền phải đồng thời chịu trách nhiệm tương xứng về việc thực hiện quyền đó và kết quả đạt được. Hiến pháp năm 2013 quy định “Cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức… phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao” (Điều 8), đồng thời “Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội về công tác trước Quốc hội…”6 nhằm khẳng đinh rõ rằng quyền hạn không thể tồn tại độc lập mà luôn gắn với trách nhiệm pháp lý, không có “trách nhiệm không đi kèm thẩm quyền” và ngược lại. Thẩm quyền không chỉ là quyền được làm mà còn là nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả của hành vi công vụ, trách nhiệm không dừng ở thực hiện đúng quy trình mà phải gắn với kết quả cuối cùng. Một cơ quan chỉ có thể chịu trách nhiệm đầy đủ khi có đủ thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ được giao. Ngược lại, nếu quyền hạn bị hạn chế hoặc phân tán trong khi trách nhiệm vẫn được giao đầy đủ, sẽ dẫn đến tình trạng “trách nhiệm vượt quá quyền hạn”. Ở chiều ngược lại, nếu trao quyền rộng nhưng không thiết lập cơ chế trách nhiệm tương ứng sẽ làm gia tăng nguy cơ lạm quyền. Gắn quyền hạn với trách nhiệm cũng đòi hỏi thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát và chế tài trách nhiệm phù hợp, nếu không sẽ dẫn tới nguy cơ lạm quyền hoặc né tránh trách nhiệm.
2.5. Phân định thẩm quyền phù hợp với năng lực và điều kiện thực thi
Việc phân định thẩm quyền giữa các cơ quan và giữa các cấp chính quyền phải căn cứ không chỉ vào chức năng pháp lý mà còn vào năng lực thể chế, nguồn lực và điều kiện thực tiễn của chủ thể được giao quyền, từ đó mới có thể bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước. Trong khoa học quản trị công, phân quyền hiệu quả không chỉ dựa trên “nên giao cho cấp nào” mà còn phải trả lời “cấp đó có đủ năng lực để thực hiện hay không”7. Việc phân định thẩm quyền không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề thực thi.
Phân định thẩm quyền phải tương thích, phù hợp với năng lực và điều kiện thực thi, đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ giữa phân định thẩm quyền và phân bổ nguồn lực. phân định thẩm quyền không thể được xem xét một cách độc lập mà phải đặt trong mối quan hệ với các yếu tố bảo đảm thực hiện, đặc biệt là nguồn lực tài chính và nhân lực. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), việc phân cấp chỉ hiệu quả khi đi kèm với cơ chế phân bổ nguồn lực tương ứng nếu không, sẽ dẫn đến tình trạng “nhiệm vụ không có nguồn lực” làm suy giảm hiệu quả quản trị công. Thẩm quyền sau khi phân định chỉ có thể được thực hiện một cách hiệu quả khi chủ thể được giao quyền có đủ điều kiện để thực hiện, bao gồm: năng lực tổ chức, nguồn nhân lực, nguồn tài chính, cơ sở vật chất và trình độ quản trị. Nếu thẩm quyền được giao vượt quá năng lực thực tế, sẽ dẫn đến tình trạng “thẩm quyền hình thức” tức là quyền hạn tồn tại trên danh nghĩa nhưng không thể thực hiện đầy đủ trong thực tiễn. Ngược lại, nếu năng lực thực thi cao nhưng không được trao quyền tương xứng, sẽ gây lãng phí nguồn lực và làm giảm tính chủ động của chủ thể quản lý.
Nguyên tắc cũng đặt ra yêu cầu phân định thẩm quyền linh hoạt và thích ứng trong năng lực và điều kiện thực thi của các cơ quan và địa phương không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian và bối cảnh phát triển. Do đó, hệ thống pháp luật cần có cơ chế điều chỉnh linh hoạt, cho phép mở rộng hoặc thu hẹp thẩm quyền phù hợp với sự thay đổi về năng lực. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và yêu cầu đổi mới quản trị công, khi năng lực của các chủ thể có thể thay đổi nhanh chóng.
3. Thực trạng quy định pháp luật về phân định thẩm quyền
Pháp luật Việt Nam đã có nhiều bước tiến trong việc xác lập và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về phân định thẩm quyền, nhưng thực tiễn áp dụng trong các lĩnh vực liên ngành cho thấy vẫn còn tình trạng chồng chéo, giao thoa, thiếu thống nhất… diễn ra trong các quy định phân định thẩm quyền trên cả ba trụ cột: giữa các văn bản pháp luật, giữa các chủ thể cùng cấp và giữa các cấp chính quyền.
3.1. Chồng chéo giữa các văn bản pháp luật
3.1.1. Xung đột, chưa tương thích giữa các luật cùng cấp
Thứ nhất, giữa Luật Tổ chức chính quyền địa phương và luật chuyên ngành liên quan đến phân cấp thẩm quyền. Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2025), quy định theo hướng xác lập nguyên tắc phân quyền, phân cấp giữa trung ương và địa phương, trong đó nhấn mạnh việc trao quyền chủ động cho chính quyền địa phương trong quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn. Tuy nhiên, nhiều luật chuyên ngành lại thiết kế theo hướng tập trung thẩm quyền ở trung ương, làm suy giảm tính thực chất của phân cấp. Ví dụ, Luật Đầu tư công (2024) vẫn duy trì vai trò tập trung vào bộ, ngành trung ương qua các quy trình chặt chẽ về thẩm định, phê duyệt dự án, đặc biệt với các dự án sử dụng ngân sách TW, dự án trọng điểm nhóm A hoặc dự án liên quan đến đất rừng, an ninh, quốc phòng. Địa phương dù có thẩm quyền quản lý nhưng phải trình các bộ chuyên ngành thẩm định vốn, quy hoạch và trình Thủ tướng phê duyệt, dẫn đến tình trạng địa phương “được giao nhiệm vụ nhưng không có đủ quyền quyết định”, làm kéo dài quy trình và giảm tính chủ động của địa phương.
Hoặc Luật Đất đai năm 2024 đã phân cấp quản lý mạnh hơn cho địa phương so với Luật Đất đai năm 2013, tuy nhiên vẫn quy định một số thẩm quyền quan trọng như: giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phần lớn vẫn chịu sự kiểm soát chặt chẽ của trung ương thông qua các quy hoạch, kế hoạch và cơ chế phê duyệt, mọi quyết định giao/cho thuê đất của địa phương phải nằm trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm đã được phê duyệt; Thủ tướng phê duyệt quy hoạch cấp tỉnh… Điều này đã dẫn đến sự giao thoa thẩm quyền giữa trung ương và địa phương, địa phương được phân quyền nhưng vẫn phụ thuộc vào trung ương.
Thứ hai, xung đột, chồng chéo giữa các luật chuyên ngành điều chỉnh cùng một lĩnh vực quản lý. Trong nhiều lĩnh vực liên ngành với nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền đối với một hoạt động quản lý, điển hình như lĩnh vực quản lý nhà nước về các dự án đa ngành (đầu tư - xây dựng - đất đai) chịu sự điều chỉnh cùng một lúc ít nhất bởi 03 luật chuyên ngành: Luật Đầu tư (2025) quy định về chấp thuận chủ trương đầu tư, Luật Xây dựng (2020) quy định về thẩm quyền cấp phép xây dựng và Luật Đất đai (2024) quy định về giao đất, cho thuê đất. Theo quy định, 03 luật này cùng tham gia điều chỉnh một chuỗi hoạt động liên quan đến một dự án đầu tư và phân bổ thẩm quyền cho nhiều cơ quan khác nhau (tài chính, xây dựng, nông nghiệp và môi trường), trong khi một cơ chế điều phối thống nhất giữa các cơ quan trên vẫn chưa thực sự được hoàn thiện. Hệ quả là nhà đầu tư vẫn phải thực hiện nhiều thủ tục tại nhiều cơ quan khác nhau; quy trình xử lý bị kéo dài do phải “tuần tự hóa” các thủ tục; phát sinh xung đột trong việc xác định cơ quan chịu trách nhiệm chính không hề dễ dàng.
Tổng hợp thực tiễn cho thấy, trong lĩnh vực đầu tư -xây dựng - đất đai, một dự án có sử dụng đất: 1) Phải gia tăng số lượng thủ tục hành chính (phải thực hiện từ 8 đến 12 thủ tục hành chính riêng biệt), trong đó nhiều thủ tục có nội dung thẩm định trùng lặp8 (ví dụ: thẩm định nhu cầu sử dụng đất, thẩm định quy hoạch, thẩm định thiết kế). 2) Kéo dài thời gian xử lý. Theo các báo cáo cải cách thủ tục hành chính và môi trường kinh doanh9, tổng thời gian thực hiện đầy đủ các thủ tục cho một dự án đầu tư có sử dụng đất có thể kéo dài từ 1,5 đến 3 năm, tùy thuộc vào quy mô và tính chất dự án. Trong đó, riêng các thủ tục liên quan đến đất đai và phê duyệt chủ trương đầu tư có thể chiếm 50-70% tổng thời gian. Nguyên nhân chính không chỉ nằm ở quy trình phức tạp, mà còn ở việc nhiều cơ quan cùng tham gia thẩm định nhưng không có cơ chế phối hợp hiệu quả; phải thực hiện lại các bước thẩm định tương tự theo yêu cầu của từng luật; phát sinh yêu cầu xin ý kiến giữa các cơ quan do ranh giới thẩm quyền không rõ ràng10. 3) Gia tăng chi phí tuân thủ. Chi phí tuân thủ trong bối cảnh chồng chéo thẩm quyền không chỉ bao gồm chi phí tài chính trực tiếp mà còn bao gồm chi phí thời gian và chi phí cơ hội. Các nghiên cứu và khảo sát doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp phải chi trả cho việc chuẩn bị hồ sơ nhiều lần cho các cơ quan khác nhau; phát sinh chi phí tư vấn pháp lý để xử lý xung đột giữa các quy định; gia tăng chi phí không chính thức do quy trình kéo dài và thiếu minh bạch. Ước tính, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư - xây dựng có thể chiếm 5-10% tổng chi phí dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư (một tỷ lệ tương đối cao so với chuẩn mực quốc tế). Theo OECD, sự phức tạp và chồng chéo của hệ thống pháp luật là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng chi phí tuân thủ11.
Những lĩnh vực đa ngành có nhiều luật chuyên ngành cùng điều chỉnh như trong lĩnh vực đầu tư -xây dựng - đất đai như nêu trên rất cần một cơ chế điều phối thống nhất để điều chỉnh. Tuy nhiên đến nay cơ chế này vẫn gặp nhiều vướng mắc bất cập về pháp lý phân định thẩm quyền và trong tiến trình đang hoàn thiện chưa thể áp dụng hiệu quả, cụ thể là: a) Sự thiếu thống nhất giữa các quy định, thủ tục đất đai, môi trường và xây dựng thường chồng chéo, mâu thuẫn, dẫn đến việc các cơ quan hiểu và áp dụng khác nhau, gây khó khăn cho dự án; b) Việc phối hợp giữa cơ quan chức năng vẫn mang nặng tính thủ tục hành chính, quy trình xin ý kiến (thư từ, văn bản) qua lại giữa các sở ngành còn kéo dài, chưa thực sự liên thông dữ liệu mặc đù cơ chế phối hợp đã phân vai cơ quan chịu trách nhiệm chính, cơ quan có trách nhiệm phối hợp…; c) Tâm lý “sợ sai” và “đùn đẩy trách nhiệm”, cán bộ một số nơi còn tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm, đùn đẩy hồ sơ qua lại, đặc biệt là các dự án phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực; d) Thiếu dữ liệu số đồng bộ, mặc dù đã có cơ sở dữ liệu quốc gia, nhưng mức độ liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan trong liên ngành vẫn còn hạn chế.
Thứ ba, xung đột giữa Luật Tổ chức Chính phủ với luật về quản lý ngành, lĩnh vực. Luật Tổ chức Chính phủ (2025) quy định bộ, cơ quan ngang bộ là chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực. Các đơn vị thuộc bộ (cục, vụ) chỉ là đơn vị tham mưu về quản lý nhà nước, không phải là chủ thể độc lập của quyền lực nhà nước. Tuy nhiên trong thực tế lập pháp phân định thẩm quyền, nhiều luật chuyên ngành lại trao quyền trực tiếp cho các cơ quan này, biến các cơ quan này thành chủ thể “quyền lực bán độc lập” dẫn đến sự không thống nhất giữa Luật Tổ chức Chính phủ và luật chuyên ngành. Có thể lấy một số ví dụ cụ thể như: Luật Xây dựng (2020) quy định thẩm quyền thẩm định thiết kế xây dựng, kiểm tra công tác nghiệm thu không chỉ thuộc Bộ Xây dựng mà còn giao trực tiếp cho các cơ quan chuyên môn về xây dựng12 (các cục, vụ thuộc bộ hoặc cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh). Trên thực tế, các cơ quan như Cục Quản lý hoạt động xây dựng (thuộc Bộ Xây dựng) thực hiện nhiều chức năng mang tính quyết định hành chính, trong khi về nguyên tắc thẩm quyền này phải được thực hiện dưới danh nghĩa của Bộ Xây dựng. Hệ quả là làm mờ ranh giới giữa thẩm quyền của Bộ Xây dựng với các đơn vị trực thuộc, khó xác định trách nhiệm pháp lý cuối cùng và tạo ra nhiều đầu mối thực hiện thẩm quyền trong cùng một lĩnh vực.
Hoặc Luật An toàn thực phẩm (2025) và các văn bản liên quan thiết lập mô hình quản lý theo chuỗi sản phẩm, quy định thẩm quyền quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm cho nhiều cơ quan, trong đó có các Cục chuyên ngành như Cục An toàn thực phẩm (thuộc Bộ Y tế) quản lý thực phẩm chức năng, phụ gia thực phẩm; Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản (thuộc Bộ Nông nghiệp và môi trường) quản lý thực phẩm tươi sống, nông sản; Cục Quản lý và phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) quản lý thực phẩm trong khâu lưu thông, phân phối…Các cơ quan này trực tiếp thực hiện cấp phép, thanh kiểm tra, xử lý vi phạm …dẫn đến thực tế cùng một sản phẩm có thể chịu sự quản lý của nhiều cơ quan khác nhau ở cùng cấp; trách nhiệm quản lý bị phân tán giữa các đơn vị trực thuộc các bộ khác nhau cùng thực hiện chức năng tương tự; dẫn đến suy yếu nguyên tắc “chỉ một đầu mối chịu trách nhiệm”, làm ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị.
3.1.2. Xung đột giữa luật và văn bản dưới luật
Một dạng chồng chéo có tính phổ biến và gây tác động trực tiếp đến thực tiễn áp dụng pháp luật là xung đột giữa luật và các văn bản dưới luật (nghị định, thông tư). Về nguyên tắc, văn bản dưới luật chỉ có chức năng quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, không được làm thay đổi nội dung, phạm vi hoặc chủ thể thẩm quyền đã được xác lập trong luật. Tuy nhiên, thực tiễn không ít trường hợp văn bản dưới luật đã mở rộng, thu hẹp hoặc tái phân bổ thẩm quyền, dẫn đến sự thiếu thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Một là, văn bản dưới luật mở rộng thẩm quyền vượt quá quy định của luật. Biểu hiện khá phổ biến hiện nay là các văn bản dưới luật (nghị định, thông tư) quy đinh thêm thẩm quyền cho cơ quan hành chính mà luật không quy định hoặc chỉ quy định ở mức nguyên tắc. Luật Đầu tư (2025) quy định rõ thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư thuộc về Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và UBND cấp tỉnh tùy theo loại dự án, nhưng trong thực tiễn triển khai, một số nghị định hướng dẫn13 đã quy định thêm các bước xin ý kiến, thẩm định liên ngành bắt buộc từ các bộ, ngành trung ương, làm phát sinh một dạng “thẩm quyền thực tế” của các cơ quan này trong quá trình quyết định đầu tư, hệ quả là thẩm quyền quyết định bị “phân tán mềm” sang các cơ quan không được Luật giao quyền khiến cho quy trình xử lý trở nên phức tạp và kéo dài hơn so với thiết kế của luật.
Hai là, văn bản dưới luật thu hẹp hoặc làm thay đổi phạm vi thẩm quyền do luật quy định. Có những trường hợp văn bản dưới luật đặt ra các điều kiện, thủ tục bổ sung làm hạn chế khả năng thực hiện thẩm quyền đã được luật trao. Ví dụ, Điều 123 Luật Đất đai (2024) trao thẩm quyền giao đất, cho thuê đất cho UBND cấp tỉnh. Tuy nhiên, Nghị định14 hướng dẫn thi hành lại duy trì sự quản lý tập trung thông qua các cơ chế: xin ý kiến bộ, ngành đối với dự án quy mô lớn/đặc thù, thẩm định bổ sung về năng lực tài chính/chuyển mục đích, bắt buộc tuân thủ quy hoạch cấp trên, tạo ra sự phụ thuộc chặt chẽ giữa địa phương vào trung ương. Điều này dẫn đến việc thẩm quyền pháp lý của địa phương bị “co hẹp trên thực tế”, làm giảm tính chủ động trong quản lý đất đai và làm sai lệch tinh thần phân cấp của Luật.
Ba là, văn bản dưới luật quy định không rõ ràng, gây chồng lấn trách nhiệm giữa các cơ quan. Là việc văn bản dưới luật quy định không rõ ràng về trách nhiệm giữa các cơ quan, hoặc thiết lập cơ chế phối hợp nhưng không xác định cơ quan chủ trì. Ví dụ, Luật Xây dựng (2020) quy định thẩm quyền cấp phép xây dựng thuộc về cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng ở địa phương. Tuy nhiên, Nghị định số 175/2024/NĐ-CP quy định chi tiết vẫn còn một số bất cập so với yêu cầu quản lý thực tế và quy định của Luật Xây dựng, đó là vẫn còn vướng mắc trong phân cấp quản lý trật tự xây dựng, khó khăn khi áp dụng quy định mới về dừng cấp điện, nước và xử lý các hành vi đấu nối, cung cấp điện nước cho các công trình vi phạm; việc xác định thẩm quyền xử lý công trình vi phạm trật tự xây dựng vẫn còn chồng chéo chưa triệt để gây khó khăn cho địa phương; đặc biệt là quy định về cá nhân thực hiện công việc xây dựng bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp. Tuy nhiên, việc liên kết giữa “biên chế” và “hợp đồng ngắn hạn” của nhân sự kỹ thuật trong các đơn vị tư vấn đôi khi chưa rõ ràng, ảnh hưởng đến thủ tục nghiệm thu.
3.2. Phân định thẩm quyền vẫn tồn tại chồng chéo thẩm quyền giữa các cơ quan cùng cấp
Chồng chéo thẩm quyền giữa các cơ quan cùng cấp là một trong những biểu hiện phổ biến và có tác động trực tiếp nhất đến hiệu quả quản lý nhà nước. Hiện tượng này xảy ra khi hai hoặc nhiều cơ quan ở cùng cấp hành chính (trung ương hoặc địa phương) cùng được giao hoặc cùng thực hiện các chức năng, nhiệm vụ tương tự mà không xác định rõ cơ quan chủ trì dẫn tới trùng lặp trong thực thi và phân tán trách nhiệm.
3.2.1. Trùng lặp chức năng quản lý giữa các bộ, ngành trung ương
Luật Tổ chức Chính phủ (2025) đã xác định nguyên tắc quản lý nhà nước cho các bộ theo ngành, theo lĩnh vực15 dẫn đến cách hiểu phổ biến chung là Luật tập trung quy định theo ngành dọc. Tuy nhiên, trên thực tế quản trị hiện nay có nhiều lĩnh vực mang tính liên ngành có đan xen chức năng thuộc phạm vi của nhiều bộ nhưng vẫn có thể thuộc một bộ chuyên ngành quản lý là tất yếu. Bên cạnh đó, pháp luật cũng thường quy định “nguyên tắc phối hợp” mà chưa quy định cụ thể cơ chế điều phối, trách nhiệm cuối cùng, chế tài khi phối hợp không hiệu quả... Vì vậy, trong thực tiễn thường phát sinh tình trạng gửi văn bản xin ý kiến, họp liên ngành, cử đại diện tham gia tổ công tác … nhưng không xác định rõ trách nhiệm quyết định cuối cùng, không rõ trách nhiệm nếu chậm xử lý hoặc đùn đẩy trách nhiệm, đây chính là lý do được đánh giá cơ chế phối hợp hiện nay còn mang tính hình thức, không rõ phân vai, dẫn đến hệ quả mọi bộ đều có tiếng nói nhưng không có bộ nào chịu trách nhiệm cuối cùng. Đây là dạng chồng chéo “ngang cấp - liên ngành” do phân cấp không triệt để làm cho ranh giới quyền lực chưa thực sự rõ ràng.
3.2.2. Chồng chéo giữa các cơ quan trong cùng cấp trong chính quyền địa phương (Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân - cơ quan chuyên môn)
Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2025) đặt mục tiêu: “phân định rõ thẩm quyền… giữa các cấp chính quyền địa phương”16. Tuy nhiên, trong thực tế vận hành mô hình chính quyền địa phương 02 cấp đã phát sinh dạng chồng chéo “song trùng trực thuộc”, cụ thể là:
Thứ nhất, chồng chéo giữa Hội đồng nhân dân (HĐND) - cơ quan quyết định chính sách và Ủy ban nhân dân (UBND) - cơ quan tổ chức thực hiện chính sách (tách biệt giữa quyết định và thực thi). Tuy nhiên, trên thực tế nhiều lĩnh vực như quy hoạch, đầu tư, ngân sách... không thể tách rời quyết định với tổ chức thực hiện do ranh giới đan xen vừa mang tính quyết định, vừa mang tính điều hành. Cụ thể như: trong lĩnh vực quy hoạch, HĐND có quyền quyết định thông qua quy hoạch nhưng UBND lại là chủ thể thực chất, gần như toàn bộ dữ liệu, kỹ thuật và phương án do UBND chuẩn bị, UBND lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch và tổ chức triển khai… Điều này dẫn đến HĐND quyết định về mặt hình thức nhưng phụ thuộc lớn vào đề xuất của UBND và hệ quả là ranh giới giữa quyết định chính sách và điều hành thực thi chính sách không còn rõ ràng.
Thứ hai, chồng chéo giữa UBND và các cơ quan chuyên môn. Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2025) quy định Sở thuộc UBND cấp tỉnh17 đồng thời chịu sự chỉ đạo chuyên môn của bộ, ngành18. Sở là một cơ quan chịu hai trung tâm chỉ đạo (UBND cấp tỉnh chỉ đạo hành chính, Bộ quản lý chuyên môn chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ) nên dễ xảy ra xung đột ưu tiên trong thực hiện nhiệm vụ. Thực tế cho thấy, tại một thời điểm UBND cấp tỉnh yêu cầu ưu tiên phát triển kinh tế, trong khi Bộ thì yêu cầu tuân thủ quy trình quản lý ngành, khi hai yêu cầu này xung đột thì chưa rõ ai (UBND cấp tỉnh hay Bộ chuyên môn) là chủ thể quyết định cuối cùng.
3.2.3. Bất cập, chồng chéo thẩm quyền giữa các cơ quan cùng cấp do phát sinh từ cơ chế phân cấp - ủy quyền
Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2025) quy định “Phân cấp là việc cơ quan nhà nước cấp trên giao cho cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện… nhiệm vụ, quyền hạn…”19, đồng thời quy định “Cơ quan phân cấp có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã phân cấp…”20. Ý nghĩa pháp lý của các quy định này là trao quyền cho cấp dưới nhưng vẫn duy trì sự kiểm soát của cấp trên, phân cấp chưa phải là chuyển giao hoàn toàn độc lập mà là “phân cấp có kiểm soát”. Những quy định này làm phát sinh nghịch lý là cấp dưới chịu trách nhiệm thực hiện nhưng cấp trên vẫn duy trì quyền kiểm tra, hướng dẫn, dẫn đến ranh giới trách nhiệm chưa thực sự tách bạch, không rõ ràng giữa trách nhiệm thực hiện độc lập theo phân cấp và trách nhiệm thực hiện theo chỉ đạo từ trách nhiệm theo dõi của cấp trên, từ đó phát sinh chồng chéo thẩm quyền thực tế, tính tự chủ của chủ thể được phân cấp chưa thực sự đầy đủ..
3.2.4. Chồng chéo thẩm quyền giữa các cơ quan cùng cấp do thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể
Công văn số 174/CV-BCĐ21 yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tập trung tháo gỡ vướng mắc, khó khăn khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp có nêu 355 nhiệm vụ cần được các bộ, ngành ban hành văn bản để hướng dẫn thực hiện. Thực tiễn này cho thấy, hệ thống quy định hiện hành chưa đủ rõ để áp dụng trực tiếp, việc phân cấp, phân quyền vẫn phụ thuộc mạnh vào hướng dẫn của bộ, ngành. Bên cạnh đó, nhiều quy định của luật chuyên ngành chỉ dừng ở “quản lý nhà nước về …”, “tổ chức thực hiện …” mà không làm rõ được quyết định gì, giới hạn đến đâu, quy trình cụ thể như thế nào, chưa xác định rõ ranh giới trung ương và địa phương. Do đó, các bộ, ngành phải tiếp tục ban hành hướng dẫn, giải thích cách hiểu để bảo đảm áp dụng thống nhất, tránh tự diễn giải, áp dụng không thống nhất giữa các cơ quan thực thi, gia tăng chồng chéo trong thực thi giữa các địa phương. Những tồn tại trên cho thấy, mặc dù địa phương có thẩm quyền theo luật nhưng vẫn phải chờ thông tư, hướng dẫn của bộ, ngành, khiến địa phương tiếp tục phụ thuộc lớn vào cơ chế hướng dẫn và kiểm soát của các bộ, ngành trung ương.
3.3. Thiếu thống nhất trong phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương
3.3.1. Quy định không đồng bộ giữa các luật chuyên ngành về phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương
Một là, xu hướng “trung ương hóa thẩm quyền” trong các luật chuyên ngành. Hầu hết luật chuyên ngành quy định rất cụ thể, chi tiết thẩm quyền của bộ, cơ quan trung ương có quyền quyết định thực chất, như quyền ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật, quyền hướng dẫn, quyền kiểm tra, phê duyệt, quyết định cuối cùng… trong khi đó, lại quy định thẩm quyền rất chung chung mang tính khung đối với cấp địa phương.
Luật Đất đai (2024) quy định Chính phủ ban hành văn bản quy định chi tiết, Bộ Nông nghiệp và môi trường ban hành văn bản hướng dẫn kỹ thuật, quy chuẩn chuyên môn, kiểm tra việc thực hiện… trong khi đó, UBND cấp tỉnh chủ yếu tổ chức thực hiện, quản lý đất đai tại địa phương, thực hiện theo phân cấp… nhưng không làm rõ được quyết định những gì, có quyền quyết định cuối cùng hay không. Dù địa phương được giao đất, cho thuê đất nhưng phải căn cứ quy hoạch, căn cứ theo tiêu chuẩn và tuân thủ quy trình do trung ương quy định (như đã đề cập ở trên). Điều này cho thấy rõ quyền quyết định thực chất vẫn nằm ở trung ương.
Luật Đầu tư công (2024) quy định Bộ Tài chính có quyền thẩm định nguồn vốn; hướng dẫn tiêu chí; kiểm soát kế hoạch đầu tư công, trong khi đó, địa phương tổ chức thực hiện dự án, phân bổ trong khuôn khổ trung ương quyết định, đặc biệt trong các dự án quan trọng phải trình, xin ý kiến trung ương. Khi địa phương được quyền đầu tư nhưng tiêu chí, định mức, điều kiện kỹ thuật đều do trung ương quy định thì địa phương chỉ còn quyền lựa chọn trong phạm vi hẹp và quyền quyết định thực chất vẫn ở trung ương. Bên cạnh đó, trong nhiều lĩnh vực địa phương đề xuất, lập hồ sơ.. . nhưng trung ương thẩm định, cho ý kiến quyết định cuối cùng, điều này cho thấy địa phương có trách nhiệm thực hiện nhưng không nắm quyền quyết định thực chất, đây là cơ chế “địa phương thực hiện - trung ương quyết định”.
Hai là, sự không thống nhất giữa các luật khi phân công cùng một lĩnh vực. Xuất phát do chưa có một “khung phân định thẩm quyền chung” có tính thống nhất để làm cơ sở cho toàn bộ hệ thống pháp luật chuyên ngành, nên mỗi luật chuyên ngành được xây dựng riêng lẻ, logic riêng, tự thiết kế thẩm quyền theo nhu cầu và mục tiêu quản lý của từng bộ, ngành dẫn đến tình trạng cùng một vấn đề nhưng nhiều luật quy định khác nhau, thậm chí nhiều chủ thể cùng có quyền quyết định trong cùng một lĩnh vực.
Luật Đầu tư công (2024) nhấn mạnh thẩm định nguồn vốn, kiểm soát ngân sách trung ương; Luật Đất đai (2024) nhấn mạnh quản lý thống nhất tài nguyên; Luật Xây dựng (2020) nhấn mạnh tiêu chuẩn kỹ thuật, cấp phép… vì vậy, nếu cùng một dự án đầu tư sử dụng đất sẽ có đồng thời nhiều cơ quan cùng có quyền, mỗi khâu lại do những chủ thể khác nhau quyết định. Kết quả là không rõ ai (bộ nào) là người quyết định cuối cùng, ý kiến của bên nào có tính bắt buộc quyết định. Hệ quả cuối cùng về pháp lý và quản trị là chồng chéo thẩm quyền không rõ ai chịu trách nhiệm chính, thủ tục hành chính bị kéo dài do phải xin ý kiến nhiều cơ quan, qua nhiều bước thẩm định.
Ba là, xung đột ngầm về thẩm quyền giữa luật chuyên ngành với Luật Tổ chức chính quyền địa phương luôn không tương thích. Xung đột ngầm về thẩm quyền là tình trạng các văn bản pháp luật không phủ định lẫn nhau trực tiếp nhưng được xây dựng trên các logic quản lý khác nhau dẫn tới khó áp dụng đồng dạng thẩm quyền trong thực tiễn. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm (2025) quy định theo hướng tăng cường phân cấp, phân quyền, đề cao tính tự chủ của địa phương (địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm). Trong khi đó, nhiều luật chuyên ngành vẫn duy trì cơ chế quản lý tập trung, kiểm soát mạnh của bộ, ngành. Hai logic này tồn tại song song nhưng không hoàn toàn tương thích, cụ thể:
Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2025) quy định “Việc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương phải bảo đảm không trùng lặp, chồng chéo về nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, giữa chính quyền địa phương các cấp và giữa các cơ quan, tổ chức thuộc chính quyền địa phương”22; đồng thời quy định phân cấp, giao quyền, tăng tính chủ động cho địa phương23... Tinh thần chung là địa phương phải có quyền chủ động, trách nhiệm rõ ràng. Tuy nhiên, luật chuyên ngành lại giữ cơ chế kiểm soát tập trung, như Luật Đất đai (2024) quy định Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành tiêu chuẩn, hướng dẫn chuyên môn, kiểm tra thực hiện. Luật Đầu tư công (2024) duy trì cơ chế thẩm định nguồn vốn, kiểm soát kế hoạch đầu tư công bởi trung ương….như vậy, luật tổ chức chính quyền địa phương muốn tăng tự chủ cho địa phương nhưng luật chuyên ngành vẫn giữ quyền kiểm soát thực chất ở Trung ương.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2025) quy định phân cấp nhưng luật chuyên ngành lại tạo cơ chế “xin ý kiến”. Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa phương xác định cơ quan được phân cấp chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện, hàm ý rằng địa phương có quyền quyết định trong phạm vi được giao, nhưng nhiều luật chuyên ngành và các văn bản hướng dẫn (lĩnh vực đầu tư, xây dựng, đất đai…) lại yêu cầu xin ý kiến bộ, thẩm định liên ngành, chấp thuận từ trung ương. Kết quả là địa phương có quyền trên danh nghĩa nhưng khó tự quyết trên thực tế.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2025) quy định “rõ trách nhiệm” nhưng luật chuyên ngành lại “chia nhỏ trách nhiệm”. Luật Tổ chức chính quyền địa phương nhấn mạnh phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhưng luật chuyên ngành, ví dụ Luật Đầu tư công lại chia một nhiệm vụ cho nhiều cơ quan, nhiều cấp cùng tham gia như: Bộ Tài chính, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhan dân, các sở chuyên môn... đều tham gia quyết định, dẫn đến không rõ cơ quan nào, ai chịu trách nhiệm cuối cùng.
3.3.2. Ranh giới giữa thẩm quyền trung ương và địa phương chưa rõ ràng
Thứ nhất, ranh giới giữa thẩm quyền của trung ương và địa phương chưa được xác lập rõ ràng. Thể hiện ở việc pháp luật chưa đưa ra tiêu chí cụ thể làm căn cứ để phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương. Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương…”24; tuy nhiên đây chỉ là nguyên tắc chung, chưa đưa ra tiêu chí cụ thể để phân định thẩm quyền giữa Trung ương và địa phương.
Quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2025): “Bảo đảm phân định rõ nội dung và phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền địa phương…”25 vẫn chỉ dừng ở nguyên tắc, chưa xác lập hệ tiêu chí pháp lý rõ ràng việc nào thuộc trung ương, việc nào thuộc địa phương. Bên cạnh đó, hiện nay pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ “việc mang tính quốc gia do trung ương quyết định”, “việc mang tính địa phương do địa phương tự quyết”, do thiếu tiêu chí này nên Trung ương có xu hướng giữ lại nhiều quyền, địa phương không rõ phạm vi tự chủ thực sự trong một số lĩnh vực như: đầu tư, đất đai, quy hoạch, môi trường, chuyển đổi số, vệ sinh an toàn thực phẩm, thích ứng với biến đổi khí hậu… vừa liên quan lợi ích quốc gia, vừa gắn với đặc thù địa phương nhưng pháp luật không xác định rõ mức độ quyết định của từng cấp.
Thứ hai, Trung ương và địa phương cùng tham gia một nhiệm vụ, chồng lấn thẩm quyền khá phổ biến. Pháp luật chưa xác định ranh giới thẩm quyền rõ ràng, đầy đủ giữa “quyền quyết định”, “quyền tổ chức thực hiện” và “quyền kiểm tra, giám sát” giữa các cấp chính quyền. Về nguyên tắc, phân cấp, phân quyền phải xác định rõ: cấp nào quyết định; cấp nào tổ chức thực hiện; cấp nào chịu trách nhiệm cuối cùng. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều nhiệm vụ hiện nay không giao trọn vẹn cho một cấp mà cả trung ương và địa phương đều cùng tham gia ở những mức độ khác nhau.
Theo Luật Đầu tư công năm 2024, trung ương có quyền ban hành tiêu chí phân bổ vốn; thẩm định nguồn vốn; quyết định chủ trương đầu tư đối với dự án lớn. Địa phương có quyền đề xuất dự án; lập kế hoạch đầu tư; tổ chức thực hiện; điều chỉnh thực hiện dự án… Như vậy, cùng một dự án cả trung ương và địa phương đều tham gia quyết định, dẫn tới chưa rõ cấp nào chịu trách nhiệm khi có sai phạm hoặc chậm tiến độ, đội vốn, hiệu quả thấp.
Luật Quy hoạch 2025 quy định trung ương có quyền phê duyệt quy hoạch cấp quốc gia, định hướng quy hoạch vùng, ban hành tiêu chuẩn quy hoạch, địa phương có quyền lập quy hoạch tỉnh, tổ chức thực hiện quy hoạch. Tuy nhiên, quy hoạch địa phương phải phù hợp với quy hoạch cấp trên, dẫn tới địa phương không có toàn quyền hoạch định phát triển. Đây là hiện tượng chồng lấn thẩm quyền của cấp trên đối với cấp dưới, dẫn đến khó khăn trong phân định thẩm quyền, khó xác định rõ chủ thể chịu trách nhiệm chính, làm mờ trách nhiệm giải trình và tính tự chủ thực chất của chính quyền địa phương.
Điển hình của phân định thẩm quyền ở nước ta là chưa rõ ràng theo chiều dọc, phân chia theo “khâu” nhưng không phân định theo “trách nhiệm”, biểu hiện trong nhiều lĩnh vực hiện hành pháp luật thiết kế thẩm quyền theo chuỗi: Trung ương ban hành chính sách, ban hành tiêu chuẩn và phê duyệt (chủ trương, quy hoạch, dự án..); địa phương tổ chức thực hiện, quản lý địa bàn, đồng thời đề xuất kiến nghị, điều chỉnh chính sách… như vậy pháp luật mới chỉ dừng ở việc “phân công theo công đoạn”, chưa xác định rõ “ai chịu trách nhiệm cuối cùng đối với kết quả”. Trung ương ban hành chính sách và cần thông tin từ địa phương, địa phương thực hiện phải điều chỉnh theo thực tiễn nên cả trung ương và địa phương cùng tham gia là tất yếu, nhưng cần phân định rõ vai trò của trung ương và địa phương thì pháp luật hiện nay chưa quy định rõ, dẫn đến tình trạng phân cấp nhưng chưa triệt để.
Ranh giới giữa thẩm quyền trung ương và địa phương chưa rõ ràng còn là do cơ chế “phối hợp” thay thế cho “phân quyền rõ ràng”. Nhiều luật quy định các bên cùng chịu trách nhiệm, thực chất là không ai chịu trách nhiệm chính dẫn đến khó xác định trách nhiệm của cả trung ương và địa phương, làm giảm tính chủ động của địa phương, địa phương không dám quyết nên phải xin ý kiến, có trường hợp cũng là dựa vào đó để né tránh trách nhiệm…
3.3.3. Chưa có tiêu chí phân định rõ “việc của trung ương - việc của địa phương”
Như trên đã nêu và phân tích, do pháp luật chưa xác định đầy đủ tiêu chí “ai làm gì” cụ thể là “việc gì thuộc trung ương”, “việc gì thuộc địa phương”, cũng như chưa làm rõ phạm vi quyết định, mức độ tự chủ và trách nhiệm cuối cùng của mỗi cấp chính quyền. Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương” (Điều 112) nhưng Hiến pháp chưa đưa ra tiêu chí cụ thể để phân định, trong khi đó các luật về tổ chức và luật chuyên ngành chủ yếu liệt kê nhiệm vụ và không xây dựng nguyên tắc phân định mang tính hệ thống. Do vậy, khó xác định được mức độ phân định, phân định mang tính tùy nghi theo từng luật, mỗi luật chuyên ngành tự quy định và phân định không dựa vào năng lực thực thi của địa phương (địa phương yếu vẫn được giao việc phức tạp, địa phương mạnh không được trao quyền tương xứng)…
Việc chưa có tiêu chí phân định dẫn tới khó xác định được chủ thể của thẩm quyền dễ dẫn tới cơ chế “Trung ương và địa phương cùng làm”, nhưng không rõ cấp nào chủ trì. Hệ quả là chồng chéo thẩm quyền, không rõ cơ quan, cá nhân nào chịu trách nhiệm cuối cùng nếu có sai sót.
4. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất trong quy định pháp luật về phân định thẩm quyền
4.1. Nguyên nhân từ thể chế và mô hình tổ chức quyền lực nhà nước
Nguyên nhân có tính nền tảng là đặc thù của mô hình tổ chức quyền lực nhà nước ta được xác lập trong Hiến pháp theo nguyên tắc “phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước”. Mô hình này nhấn mạnh yếu tố phối hợp giữa các nhánh quyền lực. Tuy nhiên, trong điều kiện các thiết chế kiểm soát quyền lực đủ mạnh và ranh giới chức năng chưa được xác định rõ, nguyên tắc phối hợp dễ bị “mở rộng” thành sự giao thoa hoặc chồng lấn thẩm quyền.
Bên cạnh đó, mô hình quản lý nhà nước vẫn mang tính tập trung tương đối cao, trong khi quá trình phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền đang trong giai đoạn chuyển đổi. Điều này dẫn đến tình trạng, trung ương có xu hướng giữ lại hoặc can thiệp vào nhiều thẩm quyền, địa phương được giao nhiệm vụ nhưng không có đầy đủ quyền hạn và ranh giới thẩm quyền giữa các cấp chưa ổn định.
4.2. Nguyên nhân từ kỹ thuật lập pháp và xây dựng pháp luật
Một là, tư duy lập pháp theo ngành, lĩnh vực. Các luật chuyên ngành thường được chủ trì xây dựng bởi các bộ quản lý ngành, dẫn đến xu hướng mỗi luật ưu tiên mục tiêu quản lý riêng của ngành mình, thiếu sự liên kết và điều phối với các luật khác, không bảo đảm tính thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật. Hệ quả là cùng một vấn đề có thể được điều chỉnh bởi nhiều luật với cách tiếp cận khác nhau, dẫn đến xung đột và chồng chéo thẩm quyền.
Hai là, thiếu cơ chế kiểm soát xung đột pháp luật. Hiện nay, quy trình xây dựng pháp luật tuy đã có nhiều cải thiện, nhưng vẫn thiếu các công cụ hiệu quả để phát hiện và xử lý xung đột pháp luật, như đánh giá tác động chính sách chưa được thực hiện đầy đủ và thực chất; thiếu cơ chế rà soát tính tương thích giữa các văn bản trước khi ban hành; chưa có thiết chế độc lập đủ mạnh để kiểm soát tính thống nhất của hệ thống pháp luật… dẫn đến việc nhiều quy định được ban hành mà không lường trước được sự chồng chéo với các quy định hiện hành.
Ba là, quy định thẩm quyền chưa rõ ràng, thiếu tính định lượng. Nhiều quy định pháp luật sử dụng các thuật ngữ mang tính định tính như “phối hợp”, “chủ trì”, “liên quan” mà không xác định rõ phạm vi thẩm quyền cụ thể; trình tự thực hiện; trách nhiệm cuối cùng của từng cơ quan. Cách quy định này tạo ra “khoảng trống pháp lý”, dẫn đến việc các cơ quan diễn giải và áp dụng khác nhau, làm gia tăng nguy cơ chồng chéo.
Bốn là, xu hướng “luật khung - luật ống” và phụ thuộc vào văn bản dưới luật. Nhiều luật chỉ quy định mang tính nguyên tắc, trong khi giao phần lớn nội dung chi tiết cho văn bản dưới luật. Điều này dẫn đến, văn bản dưới luật có xu hướng mở rộng hoặc điều chỉnh thẩm quyền làm suy yếu tính ổn định và thống nhất của luật, gia tăng nguy cơ xung đột theo chiều dọc giữa các cấp độ pháp lý.
4.3. Nguyên nhân từ tổ chức thực thi pháp luật
Thứ nhất, thiếu cơ chế điều phối liên ngành hiệu quả. Trong các lĩnh vực liên ngành, mặc dù pháp luật có quy định về phối hợp, nhưng không xác định rõ cơ quan chủ trì, thiếu thiết chế điều phối có thẩm quyền thực chất, cơ chế phối hợp chủ yếu mang tính hình thức…., dẫn đến việc mỗi cơ quan thực hiện thẩm quyền theo cách riêng, làm gia tăng chồng chéo.
Thứ hai, động cơ bảo vệ “lợi ích ngành”. Các cơ quan quản lý nhà nước có xu hướng mở rộng phạm vi thẩm quyền của mình, giữ lại hoặc bổ sung thêm quyền quản lý thông qua văn bản dưới luật, hạn chế việc phân chia hoặc chuyển giao thẩm quyền cho cơ quan khác. Đây là nguyên nhân mang tính “thể chế phi chính thức”, nhưng có tác động đáng kể đến cấu trúc phân định thẩm quyền.
Thứ ba, năng lực thực thi và điều kiện quản lý chưa đồng đều. Sự khác biệt về năng lực giữa các cơ quan và giữa các địa phương dẫn đến tình trạng tâm lý giữ quyền ở cấp trên để bảo đảm kiểm soát, ngại phân cấp do lo ngại rủi ro có thể xảy ra trong thực thi. Bên cạnh đó, do năng lực của mỗi địa phương là khác nhau dẫn đến việc áp dụng pháp luật khó thống nhất giữa các địa phương.
5. Kiến nghị giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về phân định thẩm quyền
5.1. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về phân định thẩm quyền theo hướng rõ ràng, ổn định và nhất quán
Tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực được ghi nhận trong Hiến pháp theo hướng: xác định rõ ranh giới chức năng giữa các cấp chính quyền; hạn chế tối đa tình trạng giao thoa, chồng lấn thẩm quyền; bảo đảm mỗi chức năng quyền lực có phạm vi hoạt động độc lập tương đối nhưng vẫn có cơ chế kiểm soát lẫn nhau.
Tiếp tục rà soát, sửa đổi đồng bộ Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và luật chuyên ngành để bảo đảm tính thống nhất: các luật chuyên ngành phải tuân thủ nguyên tắc phân cấp, phân quyền đã được xác lập trong Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương; hạn chế việc quy định thẩm quyền trực tiếp cho các đơn vị thuộc bộ; bảo đảm nguyên tắc “một việc - một cơ quan chủ trì - một đầu mối chịu trách nhiệm”.
5.2. Chuẩn hóa kỹ thuật lập pháp và kiểm soát xung đột pháp luật
Cần đổi mới kỹ thuật lập pháp theo hướng: quy định thẩm quyền bằng các tiêu chí rõ ràng, cụ thể, có thể kiểm chứng; hạn chế sử dụng các thuật ngữ định tính như “phối hợp”, “liên quan” mà không xác định rõ trách nhiệm; thiết kế các quy định có tính tích hợp, tránh phân mảnh theo ngành.
Tăng cường cơ chế kiểm soát xung đột pháp luật trong toàn bộ vòng đời của văn bản quy phạm pháp luật: nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách, đặc biệt đối với nội dung phân định thẩm quyền; thiết lập cơ chế rà soát tính tương thích giữa các văn bản trước và sau khi ban hành; tăng cường vai trò của cơ quan thẩm tra và các thiết chế kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp.
Hạn chế tình trạng “luật khung - luật ống”, giảm sự phụ thuộc vào văn bản dưới luật. Các nội dung cốt lõi về thẩm quyền phải được quy định trực tiếp trong luật, tránh việc văn bản dưới luật làm thay đổi hoặc mở rộng thẩm quyền.
5.3. Tiếp tục nghiên cứu cơ sở khoa học về hoàn thiện phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương
Cần thiết kế lại cơ chế phân cấp theo hướng: phân định rõ ràng thẩm quyền giữa trung ương và địa phương; gắn quyền hạn với trách nhiệm và nguồn lực tương ứng; bảo đảm tính ổn định và lâu dài của thẩm quyền được phân cấp. Cần phân biệt rõ giữa phân quyền và ủy quyền: phân quyền phải đi kèm với quyền tự chủ thực chất của địa phương; ủy quyền cần được quy định rõ phạm vi, thời hạn và trách nhiệm pháp lý; tránh tình trạng “phân cấp hình thức” hoặc “ủy quyền tùy nghi”. Cần chuyển từ cơ chế kiểm soát mang tính can thiệp trực tiếp sang kiểm soát hậu kiểm và kiểm soát bằng pháp luật, nhằm tăng tính chủ động và linh hoạt của địa phương.
5.4. Thiết lập cơ chế điều phối liên ngành và bảo đảm “chỉ một đầu mối chịu trách nhiệm”
Trong các lĩnh vực liên ngành, cần thiết lập cơ chế điều phối hiệu quả nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo giữa các cơ quan cùng cấp: xác định rõ cơ quan chủ trì đối với từng lĩnh vực hoặc từng chính sách cụ thể; quy định cụ thể trách nhiệm phối hợp của các cơ quan liên quan; thiết lập thiết chế điều phối liên ngành có thẩm quyền thực chất (ví dụ: ban điều phối, cơ chế liên bộ). Thể chế hóa nguyên tắc “một việc - một đầu mối chịu trách nhiệm chính”, qua đó bảo đảm tính rõ ràng trong trách nhiệm giải trình và nâng cao hiệu quả quản lý.
5.5. Tăng cường kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình
Việc hoàn thiện pháp luật về phân định thẩm quyền cần gắn liền với việc thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả: tăng cường vai trò giám sát của cơ quan lập pháp đối với hoạt động của hành pháp; bảo đảm tính độc lập của tư pháp trong giải quyết tranh chấp; hoàn thiện cơ chế kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật; nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện thẩm quyền.
5.6. Nâng cao năng lực thể chế và chất lượng thực thi pháp luật
Chú trọng đến yếu tố con người và năng lực thực thi, trong đó tập trung vào nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều phối thẩm quyền; xây dựng hệ thống dữ liệu pháp luật thống nhất, hỗ trợ phát hiện và xử lý xung đột pháp luật./.
------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chỉ đạo thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, Công văn số 174/CV- BCĐ ngày 02/12/2025 về tập trung tháo gỡ vưỡng mắc, khó khăn khi vận hành chính quyền địa phương 02 cấp.
2. Bộ Xây dựng (2025), Báo cáo rà soát thủ tục của Bộ Xây dựng về cải cách hành chính.
3. Chính phủ (2021), Nghị định số 06/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng.
4. Chính phủ (2026), Nghị định số 96/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư năm 2025.
5. Chính phủ (2024), Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
6. Chính phủ (2025), Nghị định số 150/2025/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
7. Nguyễn Đăng Dung (2012), Kiểm soát quyền lực nhà nước, Nxb CTQGST, tr. 67.
8. Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013.
9. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức Chính phủ (số 63/2025/QH15).
10. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15.
11. Quốc hội (2020), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng số 62/2020/QH14.
12. Quốc hội (2025), Luật An toàn thực phẩm số 61/VBHN-VPQH/2025.
13. Quốc hội (2024), Luật Đất đai số 31/2024/QH15.
14. Quốc hội (2024), Luật Đầu tư công sô 58/2024/QH15.
15. Trần Ngọc Đường, Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam, Nxb. CTGQST, 2010, tr. 78.
16. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, 2019, tr. 87.
17. OECD (2019), Making Decentralisation Work, A Handbook for Policy-Makers P 33.
18. International Monetary Fund (2012), Fiscal Decentralization and Governance.
19. World Bank (2022), Doing Business Report, P 37.
Chú thích:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
2. Trần Ngọc Đường, Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam, Nxb. CTQGST, H.2010, tr. 78.
3. Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025).
4. Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025).
5. Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025).
6. Điều 94 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025).
7. OECD, Making Decentralisation Work, 2019, p. 33
8. Bộ Xây dựng (2025), Báo cáo rà soát thủ tục của Bộ Xây dựng về cải cách hành chính.
9. VCCI (2023), Báo cáo rà soát của VCCI về cải cách hành chính (lĩnh vực đất đai, xây dựng).
10. World Bank (2022), Doing Business Report
11. OECD (2019), Making Decentralisation Work: A Handbook for Policy-Makers. P 94
12. Chính phủ, Nghị định số 06/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng.
13. Chính phủ, Nghị định số 96/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư năm 2025.
14. Chính phủ, Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
15. Điều 1 (vị trí chức năng), Điều 5 (nguyên tắc tổ chức và hoạt động), Điều 6 (nguyên tắc phân định thẩm quyền).
16. Khoản 1 Điều 11.
17. Khoản 6 Điều 16.
18. Chính phủ, Nghị định số 150/2025/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
19. Khoản 1 Điều 13.
20. Khoản 4 Điều 13.
21. Ban Chỉ đạo thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, Công văn số 174/CV- BCĐ ngày 02/12/2025 về tập trung tháo gỡ vưỡng mắc, khó khăn khi vận hành chính quyền địa phương 02 cấp.
22. Khoản 2 Điều 11.
23. Điều 13.
24. Khoản 2 Điều 112.
25. Điểm a, khoản 2 Điều 11.